TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 146/2024/HS-ST
Ngày 18 tháng 7 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tú
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Văn Nhất
Bà Nguyễn Thị Thanh Hiền
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Thiện - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Đĩnh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 135/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 130/2024/QĐXXST- HS ngày 03 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Sú A M, sinh năm 2004; Tên gọi khác không.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Nơi ở: Số nhà C, xóm B, tổ dân phố M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Hoa; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 11/12. Giới tính: Nam, Bố: Sú A, sinh năm 1980. Mẹ: Tạ Thị T, sinh năm 1985. Bị cáo là con duy nhất trong gia đình. Vợ, con chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2024/HS-ST ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/6/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B - Có mặt.
- Phạm Xuân N, sinh năm 2004; Tên gọi khác không.
Nơi cư trú: Thôn C, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 7/12. Giới tính: Nam, Bố: Phạm Văn V, sinh năm 1975. Mẹ: Nguyễn Thị Thuyết H, sinh năm 1982. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất.Vợ, con chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/3/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B - Có mặt.
* Người chứng kiến: Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1966 (vắng mặt)
1
Địa chỉ: Tổ dân phố số F, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Sú A M, sinh năm 2004, đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang thuê trọ tại số nhà C, xóm B, tổ dân phố M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. M mua ma túy về mục đích vừa sử dụng và vừa bán lại cho người khác để thu lợi. Theo Sú A M khai: Buổi tối ngày 20/3/2024, M ngồi uống nước và nói chuyện với một thanh niên không quen biết tại quán nước ở khu vực cổng làng M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Qua nói chuyện, M biết người này có bán ma túy nên hỏi mua 02 viên ma túy MDMA thì người này thanh niên này đồng ý bán với giá 400.000 đồng. M đưa tiền thì được người này đưa cho 01 túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa và viền màu đỏ, bên trong có 02 viên ma túy MDMA màu trắng đã bị vỡ. M cất túi ma túy vào túi quần bên trái đang mặc rồi vào nhà nghỉ ở tổ dân phố M, phường N, thị xã V thuê phòng nghỉ.
Phạm Xuân N, sinh năm 2004, trú tại thôn C, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang quen biết Sú A M từ trước và biết M bán ma tuý. Khoảng hơn 07 giờ ngày 21/3/2024 khi N đang ở tổ dân phố M, phường N, thị xã V thì nảy sinh ý định mua ma tuý để sử dụng cho bản thân. N sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, lắp sim số 0357.212.735 có tài khoản Messenger “Phạm Nam” nhắn tin, gọi điện đến tài khoản M1 “Tô Tường M2” của M2 hỏi mua 02 viên ma túy kẹo thì M2 đồng ý bán với giá 600.000 đồng và hẹn đến khu vực sân bóng gần cổng làng M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang để giao nhận ma túy. Sau đó, M2 mượn chiếc xe máy của người không quen biết ở khu trọ rồi đến điểm hẹn chờ. Một lúc sau, N đi xe máy đến thì M2 đưa cho N túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa và viền màu đỏ, bên trong có 02 viên ma túy MDMA màu trắng đã bị vỡ mà M2 đã mua trước đó. Do quen biết nhau từ trước nên N nói sẽ chuyển khoản trả tiền mua ma túy sau thì M2 đồng ý. N cầm túi ma túy ở tay phải rồi điều khiển xe đi về nhà.
Khoảng 07 giờ 40 phút cùng ngày, Phạm Xuân N đi đến khu vực đầu cầu X, thành phố B thì bị Tổ tuần tra của Phòng C Công an tỉnh B dừng xe kiểm tra. N đã thả rơi túi nilon có 02 viên ma túy đã bị vỡ từ tay phải xuống nền đường gần vị trí N đứng khi bị kiểm tra nhưng bị phát hiện. Tổ tuần tra đã lập biên bản kiểm soát đối với N và thu giữ vật chứng, tài sản gồm:
- 01 túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa và viền màu đỏ, bên trong đựng các mảnh viên nén màu trắng nghi là ma túy, thu giữ tại nền đường gần vị trí Nam đứng khi bị kiểm tra, được niêm phong trong phong bì dán kín.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 98F1 - 352.65
Cùng ngày, Phòng CSGT Công an tỉnh B bàn giao Phạm Xuân N cùng vật chứng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B giải quyết. Tại Cơ quan điều tra, N đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội và giao nộp: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max lắp sim số 0357.212.735 và 01 căn cước công dân mang tên Phạm Xuân N.
Kiểm tra điện thoại thu giữ của Phạm Xuân N thấy tại ứng dụng Messenger có nội dung tin nhắn, cuộc gọi từ tài khoản “Phạm Nam” đến tài khoản “Tô Tường M2” của Sú A M. Theo N khai các nội dung tin nhắn để hỏi mua ma tuý.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định chất nghi ma tuý thu giữ của Phạm Xuân N. Kết luận giám định số 637/KL-KTHS ngày 24/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
Trong 01 phong bì đã được dán kín, niêm phong gửi giám định:
Các mảnh viên nén màu trắng đựng trong 01 túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ là ma túy, có tổng khối lượng 0,637 gam, loại MDMA.
Ngày 06/6/2024, Cơ quan điều tra triệu tập Sú A M đến làm việc thì M xin đầu thú, khai nhận hành vi bán trái phép chất bán ma túy cho Phạm Xuân N và giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, số Imei 355060589857551, lắp sim số 0374.781.524.
Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp nơi ở của Sú A M nhưng không thu giữ đồ vật, tài sản gì liên quan đến ma tuý. Xét nghiệm chất ma túy trong cơ thế của M có kết quả dương tính với ma túy KET, MET. M khai có sử dụng ma túy ngày 02/6/2024.
Cơ quan điều tra cho Phạm Xuân N và Sú A M nhận dạng nhau. Kết quả N và M nhận ra nhau và đều xác định M bán ma túy cho N vào ngày 21/3/2024.
Cơ quan điều tra cho Sú A M và Phạm Xuân N xác định hiện trường và thực nghiệm hành vi mua bán trái phép chất ma túy tại hiện trường. Kết quả M, N đều xác định địa điểm giao nhận ma tuý là tại khu vực sân bóng gần cổng tổ dân phố M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang và thực hiện các động tác giao nhận ma túy như đã khai.
Cơ quan điều tra cho Sú A M và Phạm Xuân N nhận dạng ảnh túi ma túy thu giữ của N. Kết quả M và N đều nhận đúng ảnh và xác định là túi ma túy mà M bán cho N ngày 21/3/2024.
Tiến hành sao kê lịch sử giao dịch tài khoản ngân hàng của Sú A xác định ngày 21/3/2024 số tài khoản 5600199919999 của Phạm Xuân N chuyển khoản 600.000 đồng đến tài khoản 0374781524 mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần V1 của Sú A.
Đối với người nam thanh niên bán ma túy cho Sú A ngày 20/3/2024. M khai không biết tên, địa chỉ và thông tin của người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh người bán ma tuý cho M. Đối người cho M mượn xe máy tại khu trọ, M khai không quen biết, không biết tên và địa chỉ nên không làm rõ được.
Đối với Sú A M có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thế của M dương tính với ma túy KET, MET. Công an thành phố B quyết định xử phạt hành chính.
Xác minh xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 98F1 - 352.65 là xe mô tô đăng ký chính chủ mang tên Phạm Xuân N.
Số ma tuý hoàn lại sau giám định và vật chứng của vụ án được nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định.
Bản Cáo trạng số 139/CT-VKS ngày 28 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo Phạm Xuân N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Truy tố Sú A M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo Sú A M, Phạm Xuân N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu.
Chủ tọa phiên tòa công lời khai của người chứng kiến có trong hồ sơ vụ án vắng mặt tại phiên tòa, các bị cáo đều không có ý kiến gì.
Đại diện Viện sát nhân dân thành phố B giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo giữ nguyên quan điểm đã truy tố về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251 điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Sú A M từ 02 năm 03 tháng tù đến 02 năm 09 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” thời hạn tù tính từ ngày 06/6/2024.
- Phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo M từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Phạm Xuân N từ 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 21/3/2024.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo N.
- - Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 và khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Tịch thu: 01 phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định để tiêu hủy.
- Tịch thu điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, số Imei 357270094852519, lắp sim số 0357.212.735 của bị cáo N và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, số Imei 355060589857551, lắp sim số 0374.781.524 của bị cáo M để sung ngân sách nhà nước.
- Trả lại bị cáo N 01 căn cước công dân mang tên Phạm Xuân N và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 98F1 - 352.65 nhưng giữ lại xe mô tô để đảm bảo thi hành án.
- Truy thu của bị cáo Sú A M 600.000 đồng để sung Ngân sách Nhà nước.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Các bị cáo mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Phần tranh luận: Các bị cáo Sú A M, Phạm Xuân N không ai có ý kiến tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát, các bị cáo đều xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Người chứng kiến đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của người chứng kiến sự, vắng mặt của người chứng kiến không làm ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ vào Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
[3]. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người chứng kiến, kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh B và các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Buổi tối ngày 20/3/2024, Sú A M mua của người không quen biết 02 viên ma túy MDMA với giá 400.000 đồng mục đích vừa sử dụng và vừa bán cho người khác. Ngày 21/3/2024 tại khu vực gần cổng làng M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang, M bán 02 viên ma túy MDMA này cho Phạm Xuân N với giá 600.000 đồng, thu lợi 200.000 đồng.
Khoảng 07 giờ 40 phút cùng ngày, Phạm Xuân N điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98F1 - 352.65 cầm 02 viên ma túy MDMA đã mua của M đi đến khu vực đầu cầu X, thành phố B thì bị Tổ tuần tra của Phòng C Công an tỉnh B kiểm soát, thu giữ vật chứng. Kết quả giám định là ma túy MDMA có tổng khối lượng 0,637 gam.
Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức, năng lực điều khiển hành vi và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo Sú A M đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo Phạm Xuân N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố các bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4]. Về tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma tuý. Ma tuý là chất gây nghiện làm ảnh hưởng đến nhận thức, sức khỏe của con người và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác.
[5]. Xét về nhân thân của các bị cáo thì thấy: Bị cáo Sú A M là người có nhân thân xấu, Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2024HS-ST ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Sau khi Tòa án xét xử bị cáo M đã kháng cáo bản án đến nay chưa xét xử phúc thẩm, do vậy không áp dụng Điều 56 của Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo M trong vụ án này. Bị cáo Phạm Xuân N là người có nhân thân tốt, bản thân chưa có tiền án, tiền sự. Các bị cáo là người biết rõ tác hại của ma túy cũng như hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện, hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây mất trật tự trị an tại địa phương.
[6]. Xét về vai trò của các bị cáo thì thấy: Các bị cáo thực hiện hành vi độc lập với nhau, xác định đây không phải là vụ án có đồng phạm. Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra, cần phải có một mức hình phạt tù có thời hạn tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhât định để có tác dụng cải tạo riêng đối với các bị cáo và để đấu tranh phòng ngừa chung trong xã hội, mức hình phạt như đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa là phù hợp.
[7]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[8]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải và đàu thú trước cơ quan điều tra về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[9]. Về hình phạt bổ sung bằng tiền, đối với bị cáo M bán ma túy mục đích kiếm lời, ngoài hình phạt chính cần áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật. Bị cáo N mục đích tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo N.
[10]. Về nguồn gốc số ma túy bị cáo M khai mua của người không biết tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ xác minh làm rõ người bán ma túy cho bị cáo M để xử lý. Đối người cho M mượn xe máy tại khu trọ, M không quen biết, không biết tên và địa chỉ nên không điều tra làm rõ được.
[11]. Đối với Sú A M có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thế của M dương tính với ma túy KET, MET. Công an thành phố B quyết định xử phạt hành chính, do vậy không đặt ra giải quyết.
[12].Về xử lý vật chứng, tài sản thu giữ:
Tịch thu: 01 phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định, đây là vật nhà nước cấm lưu hành để tiêu hủy.
Tịch thu điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, số Imei 357270094852519, lắp sim số 0357.212.735 của bị cáo N và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, số Imei 355060589857551, lắp sim số 0374.781.524 của bị cáo M sử dụng vào việc phạm tội để sung ngân sách nhà nước.
Trả lại bị cáo N 01 căn cước công dân mang tên Phạm Xuân N và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 98F1 - 352.65 đây là tài sản của bị cáo N thường ngày sử dụng để đi làm không sử dụng vào việc phạm tội, cần trả lại bị cáo nhưng giữ lại xe mô tô để đảm bảo thi hành án.
Truy thu của bị cáo Sú A M 600.000 đồng liên quan đến việc phạm tội để sung Ngân sách Nhà nước.
[13]. Về án phí: Các bị cáo mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[14]. Về quyền kháng cáo, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251 điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Sú A M 02 năm 03 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” thời hạn tù tính từ ngày 06/6/2024.
Phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo M 5.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Xuân N 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thời hạn tù tính từ ngày 21/3/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo N.
- Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 và khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu: 01 phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định để tiêu hủy.
Tịch thu điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, số Imei 357270094852519, lắp sim số 0357.212.735 của bị cáo N và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, số Imei 355060589857551, lắp sim số 0374.781.524 của bị cáo M để sung ngân sách nhà nước.
Trả lại bị cáo N 01 căn cước công dân mang tên Phạm Xuân N và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 98F1 - 352.65 nhưng giữ lại xe mô tô để đảm bảo thi hành án.
Truy thu của bị cáo Sú A M 600.000 đồng để sung Ngân sách Nhà nước.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Sú A M, Phạm Xuân N mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5.Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Tú |
Bản án số 146/2024/HS-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về vụ án hình sự về tội "mua bán trái phép chất ma túy" và tội "tàng trữ trái phép chất ma túy"
- Số bản án: 146/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" và tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
