Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 146/2024/DS-PT

Ngày: 16 – 8 – 2024

V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Hoàng Khải

Các Thẩm phán: Bà Võ Thị Phượng

Bà Lê Thị Thọ

- Thư ký phiên tòa: Cao Kiều Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang: Bà Nguyễn Thị Hồng Thắm - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Trong các ngày 13 và 16 tháng 8 năm 2024, tại phòng xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang công khai xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số: 126/2024/TLPT-DS ngày 27 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2024/DS-ST ngày 21 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Hậu Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 143/2024/QĐ-PT ngày 04 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 136/2024/QĐ-PT ngày 31 tháng 7 năm 2024, giữa đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trần Kim M; Địa chỉ ấp D, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang.

- Bị đơn: Ông Trần Kim L; Địa chỉ ấp D, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang.

Người đại diện theo uỷ quyền của ông Trần Kim L:

  1. Ông Hồ Văn P; Địa chỉ số C, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ (Văn bản uỷ quyền ngày 30/7/2024).
  2. Anh Trần Kim T; Địa chỉ ấp D, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang (Văn bản uỷ quyền ngày 14/3/2023).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Bà Hồ Thị T1 - Luật sư thuộc Công ty L2 - Đoàn luật sư thành phố C; Địa chỉ số cạnh C, N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Liên Thị T2; Địa chỉ ấp D, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang;
  2. Người đại diện theo uỷ quyền của bà Liên Thị T2: Ông Trần Kim M; Địa chỉ ấp D, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang. (Văn bản uỷ quyền ngày 05/01/2023).

  3. Bà Nguyễn Thị H; nơi cư trú: ấp D, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang;
  4. Người đại diện theo uỷ quyền của bà Nguyễn Thị H: Ông Hồ Văn P; Địa chỉ số C, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ (Văn bản uỷ quyền ngày 03/4/2023).

  5. Ông Phạm Văn C; Địa chỉ ấp A, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang.
  6. Bà Nguyễn Thị T3; Địa chỉ ấp ấp A, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang.
  7. Ngân hàng N (viết tắt là A1); Địa chỉ số 2, đường L, quận B, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V - Tổng Giám đốc.

- Ngân hàng N - Chi nhánh huyện V, tỉnh Hậu Giang; Địa chỉ số C, đường N, ấp C, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hậu Giang.

Người đại diện theo uỷ quyền:

- Ông Nguyễn Thanh H1 - Giám đốc A1 - Chi nhánh huyện V, tỉnh Hậu Giang.

- Ông Nguyễn Thành A - Phó Giám đốc A1 - Chi nhánh huyện V, tỉnh Hậu Giang.

(Theo Văn bản uỷ quyền số 2665/QĐ-NHNo-PC ngày 01 tháng 12 năm 2022 của Tổng Giám đốc và Văn bản uỷ quyền số 109/GUQ-NHNo.VT-KHKD ngày 19 tháng 02 năm 2024 của Giám đốc Ngân hàng N - Chi nhánh huyện V, tỉnh Hậu Giang).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 13/12/2022, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà nguyên đơn ông Trần Kim M và là đại diện ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Liên Thị T2 trình bày: Ông M cùng vợ bà Liên Thị T2 có phần đất đang quản lý, sử dụng được Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Hậu Giang cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là: GCNQSDĐ) vào năm 2002 tại thửa số 748, tờ bản đồ số 09, diện tích 8.456m², địa chỉ thửa đất ấp D, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang. Giáp ranh với thửa đất số 283 của ông Trần Kim L, quá trình sử dụng đến tháng 8/2022 bị đơn ông Trần Kim L và bà Nguyễn Thị H (anh ruột và chị dâu ông M) có dấu hiệu di dời trụ ranh lấn chiếm chiều ngang 05m, chạy dài hết phần đất giáp ranh với ông L, diện tích hơn 900m². Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết buộc bị đơn ông Trần Kim L trả lại phần đất đã lấn chiếm hơn 900m². Đến ngày 19/02/2024, ông M rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu bị đơn trả lại diện tích 844,8m², tại thửa 748, tờ bản đồ số 09, địa chỉ thửa đất ấp D, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang.

Tại văn bản ngày 16/3/2023, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà bị đơn ông Trần Kim L (do các ông bà: Nguyễn Văn C1, Hồ Văn P, Nguyễn Thị Thúy L1 và anh Trần Kim T đại diện) trình bày: Ông Trần Kim L là anh ruột ông Trần Kim M; nguồn gốc phần đất ông L đang quản lý sử dụng là do cha ruột cụ Trần Văn H2 (đã chết năm 2021) cho ông L lúc còn là đất gò, cộng với một cái đìa, cuối cái đìa là ranh giới giữa đất của ông L và ông M. Ông Trần Kim L sử dụng từ năm 1992, sau đó san lấp đìa thành ruộng. Đến năm 2014 do sợ anh em trong gia đình tranh chấp nên cụ Trần Văn H2 mời họp gia đình thống nhất cho ông L phần đất trên, mọi người thống nhất ký tên, sau đó gửi trưởng ấp xác nhận. Nay ông M cho rằng ông L lấn chiếm đất thì ông L không đồng ý, yêu cầu Toà án xác minh và giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại văn bản ngày 18/01/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T3 trình bày: Giữa bà Nguyễn Thị T3 với ông Phạm Văn C là vợ chồng, hiện nay ông C đi làm ăn xa chưa về kịp. Vào ngày 25/10/2023 giữa ông Phạm Văn C và bà Nguyễn Thị T3 có thoả thuận một hợp đồng thuê đất với giá 3.000.000đ/công tầm lớn/năm, thời hạn thuê là một năm, đến ngày 25/10/2024 thì hết thời hạn thuê đất; trả tiền một lần và trả vào ngày ký kết hợp đồng thuê đất. Việc thuê đất có làm “Giấy cho mướn đất” do ông C với bà T3 và Trần Kim T ký tên. Trước khi thuê đất thì có ông Trần Kim T4 là người đã thuê đất trước, sau đó bà T3 mới thuê lại đất.

Việc tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông M với ông L, bà T3 không có ý kiến, yêu cầu gì, hết thời hạn thuê đất bà T3 sẽ trả đất, nếu có tranh chấp thì bà T3 sẽ khởi kiện bằng một vụ án khác.

Quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn C (chồng bà Nguyễn Thị T3): đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, không có ý kiến, yêu cầu gì về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không có ý kiến; Tuy nhiên tại phiên tòa có ông Hồ Văn P là đại diện theo ủy quyền trình bày: Nguồn gốc phần đất là ông L với bà H đang sử dụng là do cha mẹ ông L cho ông L với bà H, ranh giới có cái đìa đã được san lấp; do đó, đề nghị không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Tại văn bản ngày 19/02/2024, ông Nguyễn Thành A đại diện đại diện theo ủy quyền của A1 - Chi nhánh huyện V, tỉnh Hậu Giang trình bày: Ông Trần Kim M có vay của A1 nhiều lần, cụ thể các lần vay như sau: Ngày 06/12/2022 vay số tiền 100.000.000đ, thời hạn vay 60 tháng, hạn trả nợ cuối cùng ngày 06/12/2027; Ngày 18/4/2023 vay 40.000.000đ, thời hạn vay 12 tháng, ngày trả nợ cuối cùng 16/4/2024; Ngày 18/01/2024 vay 160.000.000đ, thời hạn vay 36 tháng, ngày trả nợ cuối cùng 17/01/2027. Tổng số tiền vay tính đến ngày 19/02/2024 là 300.000.000đ, tiền lãi phát sinh sau. Để đảm bảo khoản vay, ông M có thế chấp quyền sử dụng đất với diện tích 8.456m², tại ấp D, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang. Do ông M chưa vi phạm hợp đồng nên Ngân hàng chưa có yêu cầu trả nợ. Nếu có yêu cầu Ngân hàng sẽ khởi kiện bằng một vụ án khác.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 04/2023/DS-ST ngày 21 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Hậu Giang tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Kim M đối với bị đơn ông Trần Kim L về việc ông M yêu cầu ông L trả lại phần đất tại thửa số 748, diện tích 844.8m², tờ bản đồ số 09, địa chỉ thửa đất tại ấp D, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang, thuộc vị trí số 2 và số 4, có Mảnh trích đo địa chính số 02/SHC, ngày 20/02/2024 của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ kèm theo.

Buộc ông Trần Kim L với bà Nguyễn Thị H có trách nhiệm trả lại cho ông Trần Kim M và bà Liên Thị T2 phần đất tại thửa số 748, diện tích 844.8m², tờ bản đồ số 09, địa chỉ thửa đất tại ấp D, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang, thuộc vị trí số 2 và số 4, theo Mảnh trích đo địa chính số 02/SHC, ngày 20/02/2024 của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ.

Đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu của nguyên đơn đã rút.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, Chi phí phí xem xét, thẩm định, định giá, quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án của đương sự.

Ngày 26 tháng 02 năm 2024, bị đơn ông Trần Kim L có đơn kháng cáo yêu cầu sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Kim M.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị đơn giữ nguyên yêu cầu và cho rằng cấp sơ thẩm căn cứ diện tích tổng thể tranh chấp là không phù hợp gì trên tổng diện tích bị đơn được cấp trong đó có phần đất đìa chưa làm giấy ông đã bồi đấp, mặt khác nguyên đơn cũng thừa nhận phần đất của bị đơn cho thuê, không trực tiếp sử dụng, nên không có việc lấn đất của nguyên đơn. Hơn nữa các bên không tranh chấp tổng thể đất mà tranh chấp chiều ngang mà chiều ngang đã được thể hiện trên họa đồ ranh giới đề nghị Hội đồng xét xử đối chiếu làm căn cứ giải quyết.

Nguyên đơn cho rằng phần đất bị đơn đã nhiều lần lấn ranh sau mỗi mùa vụ đào ven lấn chiếm phần đất của bị đơn hiện nay tổng diện tích chung thiếu 844,8m². Nguyên đơn thống nhất dùng kích thước trên họa đồ ranh giới cấp giấy năm 2002 với mảnh trích đo năm 2024 làm cặc cứ giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về tố tụng, quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và đương sự đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng.

Về nội dung vụ án: Nguồn gốc đất của các đương sự được tặng cho từ cụ H2 là cha của nguyên đơn và bị đơn. Theo hồ sơ do Văn phòng đăng ký đất đai cung cấp thì phần đất của nguyên đơn và bị đơn có kích thước tứ cận và đối chiếu với kích thước họa đồ ranh giới với mảnh trích thì phần đất của nguyên đơn không thiếu, nên cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu nguyên đơn là không có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự sửa án sơ thẩm chấp nhận kháng cáo của bị đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Phần đất đang tranh chấp có nguồn gốc của ông Trần Văn H2 là cha ruột của nguyên đơn và bị đơn đứng tên, thửa đất số 283, tờ bản đồ số 9, ấp D, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang có diện tích 26.324m². Năm 2002 ông H2 làm thủ tục tặng cho chia phần đất thuộc thửa 283 ra cho những người con trong đó có nguyên đơn, bị đơn và ông Trần Kim T4. Căn cứ vào hồ sơ chỉnh lý biến động của thửa 283 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện V cung cấp thể hiện sơ họa mốc giới thửa đất của Trần Kim M thể hiện thửa 748 diện tích 8.456m² có tứ cận ngang giáp thửa 287 là 41,7m, ngang giáp thửa 282 là 48,5m, dài giáp thửa 283 là 198m, dài giáp thửa 747 là 177m. Thửa đất của Trần Kim L thể hiện thửa 283 diện tích 10046m² có tứ cận ngang giáp thửa 287 là 50,2m, ngang giáp thửa 282 là 46,5m + 76m, dài giáp thửa 200 là 216m, dài giáp thửa 748 là 198m. Với kích thước hình thể thể hiện theo hồ sơ đăng ký biến động như trên làm căn cứ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng cho cho nguyên đơn cùng vợ là Liên Thị T2 và bị đơn cùng vợ là Nguyễn Thị H, cấp cùng ngày 16/7/2002. Nhận giấy, nhận đất canh tác từ 2002. Nguyên đơn cho rằng phần đất của nguyên đơn đã bị đơn di dời bờ mẫu dần hàng năm nên bị lấn chiếm diện tích 844,8m²; Bị đơn thì cho rằng sử dụng ổn định không lấn ranh, diện tích đất có tăng lên so với giấy là trước đây có một cái đìa bị đơn lấp nên diện tích có tăng lên.
  2. Theo nội dung khởi kiện và các chứng cứ có trong hồ sơ có căn cứ xác định tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn là tranh chấp ranh giới giữa bất sản liền kề. Quá trình thu thập chứng cứ Tòa án cấp sơ thẩm đã có 02 mảnh trích đo, trong đó mảnh trích địa chính số 62/SHC, ngày 14/4/2023 của Công ty TNHH Đ đã xác định phần đất tranh chấp thuộc vị trí số (2) và số (4), diện tích tranh chấp tổng cộng là 1.075,2m². Theo Mảnh trích đo địa chính số 02/SHC ngày 20 tháng 02 năm 2024 của Công ty Đ thì phần diện tích 844,8m², tại vị trí số (2) và số (4) có kích thước ngang giáp thửa 282: 4,32m; ngang giáp thửa 286: 4,84m. Theo nội dung khởi kiện và chứng cứ thể hiện trên lược đồ cho thấy các bên tranh chấp về chiều ngang không tranh chấp về chiều dài, tranh chấp ranh giới nên cần phải xem xét mốc lịch sử tồn tại hoặc thừa nhận của các bên làm căn cứ để giải quyết.
  3. Tại phiên tòa nguyên đơn cho rằng bị đơn lấn ranh và thống nhất sử dụng Mảnh trích đo địa chính số 02/SHC, ngày 20 tháng 02 năm 2024 của Công ty Đ làm căn cứ giải quyết vụ án. Chứng cứ các bên cung cấp là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đó thể hiện giấy chứng nhận do ông Trần Kim M và bà Liên Thị T2 được cấp tại thửa 748 diện tích 8.456m². Giấy chứng nhận do ông Trần Kim L và bà Nguyễn Thị H được cấp tại thửa 283, tờ bản đồ số 9, diện tích 10.046m². Cả 02 giấy của nguyên đơn và bị đơn có diện tích chung mà không có kích thước từng vị trí, do đó cần phải xem xét chứng cứ khác làm căn cứ giải quyết vụ án. Đối chiếu mảnh trích số 02 so với sơ họa mốc giới thửa đất ngày 13/6/2002 của nguyên đơn cho thấy, phần đất của nguyên đơn theo Mảnh trích số 02 có chiều ngang giáp thửa 287 là 41,63m, chiều ngang họa mốc 41.7m thiếu 0,07m; ngang theo mảnh trích giáp thửa 282 là 50.19m, chiều ngang họa mốc 48,5m thừa 1,69m. Đối với phần đất của bị đơn Mảnh trích số 02 có chiều ngang giáp thửa 285 là 42,46m, chiều ngang họa mốc 50.2m thiếu 7,74m; ngang theo mảnh trích giáp thửa 282 là 53.58m + 64.95m (118,53m), chiều ngang họa mốc 46,5m + 76m (122,5m) thiếu 3,96m. Họa mốc là kích thước của cha là ông Trần Văn H2 tặng cho nguyên đơn và bị đơn và là căn cứ để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Đối chiếu với kích thước của họa mốc với mảnh trích số 02 cho thấy, phần đất của nguyên đơn không thiếu so với diện tích chiều ngang được cấp giấy, trong khi đó bị đơn cả 02 đầu đều thiếu so với giấy được cấp, nên chưa đủ căn cứ xác định bị đơn có lấn chiếm phần đất của nguyên đơn.
  4. Mặt khác tại tòa nguyên đơn cũng thừa nhận phần đất giáp ranh giữa các bên là 01 cái bờ mẫu và hiện trạng bờ mẫu vẫn còn nhưng cho rằng bị đơn đắp ven hàng năm nên lấn qua phần đất của nguyên đơn, tuy nhiên tại tòa nguyên đơn cũng thừa nhận bị đơn không trực tiếp canh tác đất mà cho thuê, nên cho rằng việc người thuê đất lấn ranh là chưa đủ cơ sở.
  5. Tại phiên tòa phúc thẩm người đại diện ủy quyền của bị đơn và luật sư bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho bị đơn thống nhất cho rằng, về tố tụng không đồng ý với mảnh trích số 02 và cho rằng chưa nhận được mảnh trích số 02 trước khi xét xử sơ thẩm nên đề nghị hủy án sơ thẩm. Tuy nhiên, qua thẩm vấn công khai tại tòa đại diện bị đơn thừa nhận có trực tiếp tham gia thẩm định tại chỗ và có ký tên vào biên bản. Quá trình giải quyết vụ án cho đến khi xét xử xong sơ thẩm bị đơn không khiếu nại gì mảnh trích số 02, nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu hủy án của đại diện ủy quyền của bị đơn và luật sư bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho bị đơn.
  6. Từ nhận định trên xét thấy kháng cáo của bị đơn không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, phù hợp với đề nghị của Viện kiểm sát đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự sửa án sơ thẩm.
  7. Về án phí: Buộc nguyên đơn phải chịu án phí 300.000đ án phí không có giá ngạch về tranh chấp quyền sử dụng đất.
  8. Về chi phí tố tụng:
  9. Buộc nguyên đơn Trần Kim M phải chịu theo quy định. Do anh Trần Kim T5 nộp tạm ứng chi phí tố tụng thay ông M số tiền là 24.000.000đ. Cấp sơ thẩm đã chi phí cho việc xem xét, thẩm định, chi phí lấy kết quả đo đạc, định giá là 12.990.000đ; nguyên đơn đã nộp xong. Số tiền còn lại 11.010.000₫ ông T5 đã nhận lại xong.

    Đối số tiền chi phí tạm ứng do anh Trần Kim T (đại diện theo uỷ quyền của ông Trần Kim L) đã nộp tạm ứng số tiền 11.000.000₫ (BL 182). Cấp sơ thẩm đã chi phí đo đạc lại với số tiền 2.000.000₫ bị đơn đã nộp xong. Số tiền còn lại 9.000.000₫ đã được giao trả lại cho người nộp tiền xong.

    Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 175, Điều 184, Điều 562 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 3, Điều 6, Điều 24, Điều 38, Điều 73 và Điều 79 Luật Đất đai năm 1993. Điều 3, Điều 166, Điều 170, Điều 202, Điều 203 của Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khoá 14: Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận kháng cáo của bị đơn Trần Kim L.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Kim M.

Sửa bản án sơ thẩm số 04/2023/DS-ST ngày 21 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Hậu Giang.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Kim M đối với bị đơn ông Trần Kim L về việc ông M yêu cầu ông L trả lại phần đất tại thửa số 748, diện tích 844,8m², tờ bản đồ số 09, địa chỉ thửa đất tại ấp D, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang.
  2. (Theo Mảnh trích đo địa chính số 02/SHC, ngày 20/02/2024 của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ).

  3. Đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu của nguyên đơn đã rút.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc nguyên đơn ông Trần Kim M phải chịu 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003149, ngày 13/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.
  5. Án phí dân sự phúc thẩm: Không ai phải chịu. Bị đơn ông Trần Kim L được nhận lại 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng), tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0008558, ngày 27/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.
  6. Chi phí xem xét, thẩm định, định giá:
    1. Buộc nguyên đơn ông Trần Kim M phải chịu là 12.990.000₫ (Mười hai triệu chín trăm chín mươi ngàn đồng); nguyên đơn được trừ vào tiền tạm ứng, nguyên đơn đã nộp xong. Nguyên đơn ông Trần Kim M được nhận lại 11.010.000₫ (Mười một triệu không trăm mười ngàn đồng), ông Trần Kim T5 đã nhận lại xong.
    2. Buộc bị đơn ông Trần Kim L phải chịu là 2.000.000₫ (Hai triệu dồng); Bị đơn được trừ vào tiền tạm ứng, bị đơn đã nộp xong. Bị đơn ông Trần Kim L được nhận lại 9.000.000₫ (Chín triệu đồng), bị đơn đã nhận lại xong.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực từ ngày tuyên án, ngày 16 tháng 8 năm 2024.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hậu Giang;
  • - TAND h. V;
  • - Chi cục THADS h. V;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Hoàng Khải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 146/2024/DS-PT ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 146/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị đơn ông Trần Kim L có đơn kháng cáo yêu cầu sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Kim M.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger