|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 146/2024/HNGĐ-ST Ngày 12-8-2024 V/v "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
-
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Nam.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Ngọc Hiệp;
Ông Nguyễn Thành Trưởng.
-
- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Mơ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.
-
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Trần Đức Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 12/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 130/2024/TLST-HNGĐ ngày 22/7/2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02/8/2024, giữa các đương sự:
-
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị T, sinh năm 1992;
Địa chỉ: Thôn L, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định.
-
- Bị đơn: Ông Phạm Đường Q, sinh năm 1987;
Địa chỉ: Thôn V, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định.
Nguyên đơn, bị đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 08/7/2024 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn bà Phạm Thị T trình bày:
Về hôn nhân: Bà và ông Phạm Đ Quy kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, sau đó đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định vào ngày 22/4/2010, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương, trước khi cưới vợ chồng có sống chung với nhau một thời gian. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống tại xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, có với nhau 02 con chung tên Phạm Văn T1, sinh ngày 21/7/2008 và Phạm Văn T2, sinh ngày 03/10/2011, hiện con đang ở với ông Q. Bà làm nghề tự do, thu nhập bình quân 5.000.000 đồng/tháng. Mâu thuẫn phát sinh từ tháng 6 năm 2024, bà và ông Q đã ly thân từ đó đến nay; nguyên nhân mâu thuẫn là do không cùng quan điểm sống, tính cách không hợp, thường xuyên xảy ra tranh cãi, xung đột, ông Q thường xuyên nhậu nhẹt về rồi đánh đập bà. Nay cảm thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Phạm Đường Q.
Về con chung: Bà yêu cầu được nuôi 02 con chung Phạm Văn T1, sinh ngày 21/7/2008 và Phạm Văn T2, sinh ngày 03/10/2011; bà không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Bản tự khai ngày 23/7/2024 và các lời khai tại Toà án, bị đơn ông Phạm Đường Q trình bày:
Về hôn nhân: Ông và bà Phạm Thị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, sau đó đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định vào ngày 22/4/2010, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương, trước khi cưới vợ chồng có sống chung với nhau. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống tại xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, có với nhau 02 con chung tên Phạm Văn T1, sinh ngày 21/7/2008 và Phạm Văn T2, sinh ngày 03/10/2011, hiện con đang ở với ông. Ông làm nghề nông, thu nhập bình quân 5.000.000 đồng/tháng. Mâu thuẫn phát sinh từ tháng 6 năm 2024, ông và bà T đã ly thân từ đó đến nay; nguyên nhân là do không cùng quan điểm sống, tính cách không hợp, thường xuyên xảy ra tranh cãi, xung đột. Nay bà T yêu cầu ly hôn thì ông đồng ý.
Về con chung: Đồng ý giao 02 con chung Phạm Văn T1, sinh ngày 21/7/2008 và Phạm Văn T2, sinh ngày 03/10/2011 cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng; ông không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát huyện H, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: trong giai đoạn thụ lý hồ sơ, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
Về hôn nhân: Xét thấy, tình cảm vợ chồng bà Phạm Thị T và ông Phạm Đường Q không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho bà Phạm Thị T được ly hôn ông Phạm Đường Q.
Về con chung: Đề nghị giao 02 con chung tên Phạm Văn T1, sinh ngày 21/7/2008 và Phạm Văn T2, sinh ngày 03/10/2011 cho bà Phạm Thị T tiếp tục nuôi dưỡng; ông Phạm Đường Q không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Phạm Thị T có đơn yêu cầu ly hôn ông Phạm Đường Q. Đây là vụ án hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn ông Phạm Đường Q đăng ký thường trú tại xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân.
[2] Xét đơn đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt của bà Phạm Thị T và ông Phạm Đường Q. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị T và ông Phạm Đ Quy kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định vào ngày 22/4/2010 nên hôn nhân của vợ chồng ông bà là hợp pháp. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, mâu thuẫn phát sinh từ tháng 6 năm 2024, bà T và ông Q đã ly thân từ đó đến nay. Nguyên nhân chủ yếu là do không cùng quan điểm sống, tính cách không hợp, thường xuyên xảy ra xung đột. Bà T cho rằng ông Q thường xuyên nhậu nhẹt về rồi đánh đập bà.
Nay, bà Phạm Thị T và ông Phạm Đường Q đều xác định mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, không thể đoàn tụ được nên bà T, ông Q đồng ý ly hôn. Xét thấy, tình cảm vợ chồng bà T, ông Q mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, cho dù có kéo dài cuộc sống vợ chồng cũng không hạnh phúc và thực tế họ đã không còn sống chung với nhau, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại các Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[4] Về con chung: Bà Phạm Thị T và ông Phạm Đường Q có 02 con chung tên Phạm Văn T1, sinh ngày 21/7/2008 và Phạm Văn T2, sinh ngày 03/10/2011. Tại Toà, bà T yêu cầu được nuôi cả 02 con, ông Q cũng đồng ý giao 02 con cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng. Tại biên bản lấy lời khai ngày 23/7/2024, cháu T1 và cháu T2 đều có nguyện vọng được ở với bà T. Nên Hội đồng xét xử cần giao 02 con chung cho bà Phạm Thị T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.
[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Phạm Thị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Phạm Thị T và ông Phạm Đường Q không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[8] Về án phí: Bà Phạm Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 266; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 51; 56; 81; 82; 83; 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;
Bà Phạm Thị T được ly hôn ông Phạm Đường Q.
-
Về con chung: Giao 02 con chung tên Phạm Văn T1, sinh ngày 21/7/2008 và Phạm Văn T2, sinh ngày 03/10/2011 cho bà Phạm Thị T tiếp tục nuôi dưỡng. Ông Phạm Đường Q được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con, các bên: Người thân thích của con; Cơ quan quản lý Nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý Nhà nước về trẻ em; Hội Liên hiệp Phụ nữ có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
-
Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét.
-
Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
-
Về án phí: Án phí ly hôn sơ thẩm, bà Phạm Thị T phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng, theo biên lai thu số 0004728, ngày 22/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Ân.
-
Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Việt Nam |
Bản án số 146/2024/HNGĐ-ST ngày 12/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 146/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
