| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 146/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 26/4/2024
V/v Ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Quách Thanh Bình
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Võ Thị Nam
2. Bà Nguyễn Thị Nở
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Vân - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không tham gia phiên tòa.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 90/2024/TLST-HNGĐ ngày 15/3/2024 về tranh chấp “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1995/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/4/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Huyền T, sinh năm 1989 (vắng mặt)
Thường trú: Căn 1426 - VP5 – Bán đảo L, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội.
Cư trú: 17/10, Tổ 21, KP6, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh
Bị đơn: Ông Phan Xuân T1, sinh năm 1987 (vắng mặt)
Quốc tịch: Việt Nam
Hộ chiếu số C7366975
Cư trú: 32 M, N, VIC C, Australia.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 12/10/2023 và bản tự khai, nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Huyền T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Phan Xuân T1 kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 01, quyển số 01/2012 do Ủy ban nhân thị trấn C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh cấp ngày 02/01/2013. Trong thời gian chung sống, vợ chồng nảy sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng về các vấn đề trong cuộc sống, ông T1 đã qua Australia sinh sống làm việc, còn tôi vẫn ở tại Việt Nam, vợ chồng đã cố gắng hàn gắn nhưng không được. Nay nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm với nhau, đã ly thân, không quan tâm, chia sẻ lẫn nhau, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông T1.
Về việc nuôi con: Có 02 con chung tên Phan Nguyễn Gia H, sinh ngày 03/5/2014 và Phan Huyền M, sinh ngày 01/01/2021. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con, không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Bản tự khai và trình bày ý kiến được T2 tại S, Australia chứng nhận ngày 03/4/2024, bị đơn – ông Phan Xuân T1 trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Thị Huyền T kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 01, quyển số 01/2012 do Ủy ban nhân thị trấn C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh cấp ngày 02/01/2013. Thời gian đầu vợ chồng chung sống bình thường, nhưng đến năm 2021 thì mâu thuẫn bắt đầu phát sinh và ngày càng trầm trọng do bất đồng quan điểm sống và cách nuôi dạy con cái. Ông đã sang Australia sinh sống làm việc, còn bà T vẫn ở lại Việt Nam. Nay tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được do đó bà T khởi kiện yêu cầu ly hôn thì ông đồng ý.
Về việc nuôi con: Có 02 con chung tên Phan Nguyễn Gia H, sinh ngày 03/5/2014 và Phan Huyền M, sinh ngày 01/01/2021. Hiện nay cả hai trẻ đều đang sinh sống với bà T nên ông đồng ý để bà T trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con, bà T không yêu cầu ông cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
- Ngày 12/10/2023, bà Nguyễn Thị Huyền T khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Phan Xuân T1. Ông Phan Xuân T1 đang cư trú tại Australia, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Nguyễn Thị Huyền T và ông Phan Xuân T1 có đơn xin xét xử vắng mặt, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Huyền T và ông Phan Xuân T1 tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 01, quyển số 01/2012 do Ủy ban nhân thị trấn C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh cấp ngày 02/01/2013, nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Bà T và ông T1 đều thừa nhận trong thời gian chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm về nhiều vấn đề trong cuộc sống, vợ chồng hiện nay sống xa cách, tình cảm không còn, không có khả năng đoàn tụ. Do đó có cơ sở xác định bà T và ông T1 đã không còn tình cảm với nhau, không quan tâm chăm sóc, giúp đỡ nhau, vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, không có khả năng hàn gắn đoàn tụ, nên căn cứ vào Điều 19, Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu của bà T về việc xin ly hôn với ông T1.
- Về việc nuôi con: Căn cứ Giấy khai sinh số 133 quyển số 01/2014 do Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh cấp ngày 16/6/2014 và Giấy khai sinh số 30 do Ủy ban nhân dân phường P, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 02/02/2021 thì trẻ Phan Nguyễn Gia H, sinh ngày 03/5/2014 và trẻ Phan Huyền M, sinh ngày 01/01/2021 là con của bà Nguyễn Thị Huyền T và ông Phan Xuân T1. Hiện cả hai trẻ đang sống ổn định cùng bà T và trẻ H có nguyện vọng được tiếp tục ở với mẹ. Ông T1 và bà T thống nhất thỏa thuận giao cả hai con cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, ông T1 không cấp dưỡng nuôi con, nên căn cứ vào Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu của bà T về việc được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai trẻ Phan Nguyễn Gia H và trẻ Phan Huyền M, không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà Nguyễn Thị Huyền T phải chịu án phí đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, khoản 1 Điều 273, điểm a khoản 5 Điều 477 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 116, Điều 117 và Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Huyền T.
- - Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Huyền T được ly hôn với ông Phan Xuân T1.
- - Về việc nuôi con: Giao cả hai trẻ Phan Nguyễn Gia H, sinh ngày 03/5/2014 và trẻ Phan Huyền M, sinh ngày 01/01/2021 cho bà Nguyễn Thị Huyền T trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Nguyễn Thị Huyền T không yêu cầu ông Phan Xuân T1 cấp dưỡng nuôi con.
- Ông Phan Xuân T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Trong trường hợp có yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại Điều 82, 83, 84, 116, 117 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Huyền T phải nộp án phí ly hôn là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0032596 ngày 13/3/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị Huyền T đã nộp đủ án phí.
- Bà Nguyễn Thị Huyền T có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 (mười lăm) ngày; ông Phan Xuân T1 có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Quách Thanh Bình |
Bản án số 146/2024/HNGĐ-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 146/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
