|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 146/2025/HS-PT Ngày:19-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Phương Đông
Các Thẩm phán: Ông Vũ Thế Phương
Bà Vũ Thị Thu
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Quỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Tống Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 3 năm 2025, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm đối với vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 422/2024/HSPT ngày 06/11/2024 đối với bị cáo Hoàng Xuân V và các bị cáo khác. Do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa và kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 531/2024/HSST ngày 25/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
· Bị cáo bị kháng nghị:
1. Hoàng Xuân V (Vũ C), sinh năm 1985 tại Khánh Hòa; nơi thường trú: 2 T, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nơi cư trú: 1, khu phố T, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 9/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Hoàng Xuân H, sinh năm 1960 và bà: Nguyễn Thị Thu M, sinh năm 1958; bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 127/2007/HSST ngày 08/3/2007 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt bị cáo 05 (năm) năm tù về tội
“Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ Luật hình sự (đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 31/8/2011, đã nộp án phí hình sự sơ thẩm 50.000 đồng và tiền sung công quỹ nhà nước 634.000 đồng, chưa bồi thường 1,075 chỉ vàng 18K cho bị hại);
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/02/2024 cho đến nay; hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (có mặt).
2. Mai Văn S (B1), sinh năm 1994, tại Lâm Đồng; nơi thường trú: Khu phố T, thị trấn D, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: Khu phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 4/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; con ông Mai Văn N, sinh năm 1966 và bà Mai Thị Ngọc C1, sinh năm 1966; có vợ tên Lê Thị Ngọc B, sinh năm 1995; có 02 con chung sinh năm 2014 và năm 2019.
Tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 156/2016/HSST ngày 10/3/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xử phạt bị cáo 03 (ba) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 2 Điều 104 của Bộ luật hình sự (đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 24/01/2018 và được miễn án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng, bị cáo chưa bồi thường cho bị hại số tiền 25.906.041 đồng).
Tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/8/2023 cho đến nay; hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (có mặt).
3. Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1986 tại Đồng Nai; nơi thường trú: E, Khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 8/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; con ông Nguyễn Thành T2, sinh năm 1965 và bà Đỗ Thị Đ, sinh năm 1968; có vợ tên Nguyễn Thị Bích P, sinh năm 1987 nhưng đã ly hôn; có 03 con chung sinh năm 2007, 2010 và năm 2014; tiền án, tiền sự: không; bị cáo đầu thú ngày 16/10/2023, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (có mặt).
4. Nguyễn Thanh L (tên gọi khác: Tí L1), sinh năm 1988 tại Đồng Nai; nơi thường trú: 703/16/2, Tổ H, Khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 7/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn L2, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1963; có vợ tên Lê Thị Nhâm T3, sinh năm 1992; có 03 con chung sinh năm 2012; 2017 và năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giam từ ngày 18/8/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (có mặt).
5/ Nguyễn Đình T (tên gọi khác: M1), sinh năm 1996 tại Đồng Nai; nơi thường trú: B, Tổ A, Khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 7/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Đình T4, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị T5, sinh năm 1960; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giam từ ngày 18/8/2023 đến ngày 08/11/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh; đến ngày 25/9/2024 bị bắt tạm giam cho đến nay; hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Phân trại khu vực B (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đính T6: Ông Vũ Văn T7, Luật sư thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ; nơi làm việc: Văn phòng Luật sư Vũ T7, Số A, Tổ A, Khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; (có mặt) .
(Trong vụ án còn có bị cáo khác và Nguyễn Văn C2, bị hại nhưng không có kháng cáo hoặc bị kháng nghị nên cấp phúc thẩm không triệu tập).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Nội dung chính:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ ngày 28/12/2021, Hoàng Xuân V cùng Nguyễn Thanh T1, Mai Văn S, Nguyễn Hùng C3, Nguyễn Thị Mỹ L3 (không rõ lai lịch, là bạn gái của V) đến nhậu tại tầng trệt quán ăn gia đình “B" thuộc khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Cùng lúc này trên lầu 1 quán Bông L4 có 02 bàn khách khác (trong số đó có một số là bạn của Hoàng Xuân V):
Bàn thứ nhất gồm: Nguyễn Anh T8 (T8 ốm), Nguyễn Thanh L, Đinh Thanh L5, K và S1 (không rõ lai lịch).
Bàn thứ hai có khoảng 10 người, trong đó có: Nguyễn Đình T, Nguyễn Văn C2, T9 “còi” và một số người (chưa rõ lai lịch) là bạn của C2 và T.
Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, anh Phạm Văn Đ1, anh Nguyễn Ngọc H1 và chị Võ Thị Mỹ H2 đến quán B2 để ăn uống. Khi đi ngang qua bàn của Hoàng Xuân V đi lên trên lầu 1, do nghĩ anh H1 nhìn L3 (bạn của V) nên V đi theo anh
H1 lên lầu 1 gây sự. V dùng tay kẹp cổ đấm vào đầu và mặt anh H1. Anh Đ1 thấy vậy liền can ngăn thì bị V dùng tay đánh. Cùng lúc này, Nguyễn Anh T8, Đinh Thanh L5, Nguyễn Thanh T1 xông vào đánh anh Đ1. T8 và L5 dùng ly thủy tinh đánh vào đầu anh Đ1, anh Đ1 dùng hai tay ôm đầu thì bị thương ở hai tay. Nguyễn Hùng C3 cầm ghế nhựa, T1 dùng tay đánh Đ1 nhưng không trúng. Anh Đ1 bỏ chạy thoát. T8 và L5 bỏ về bàn ngồi nhậu.
Khi thấy anh Đ1 bị đánh, anh H1 đi đến bàn dùng cho nhân viên lấy 01 con dao Thái Lan dài khoảng 20 cm cầm trên tay đưa dao ra phía trước đe doạ để phòng vệ thì Nguyễn Đình T đến hỏi vì sao cầm dao còn V, T1 xông vào đánh. Lúc này Mai Văn S, Nguyễn Thanh L, Nguyễn Văn C2, T, T9 “còi” và một số người khác xông vào đuổi đánh anh H1. Anh H1 bị một đối tượng (không rõ lai lịch) dùng ghế nhựa đánh trúng phần chân ghế vào mắt trái gây thương tích. Sau đó, anh H1 tay ôm đầu che mắt di chuyển sang góc bên trái nhà thì bị S dùng ly uống bia bằng thủy tinh và kệ để bình nước bằng inox ném vào người anh H1. T dùng xô nhựa ném vào người anh H1 và T bị trượt ngã, T đứng dậy và cầm nồi lẩu đi về phía anh H1 nhưng không đánh và để nồi lẩu xuống bàn. Nguyễn Văn C2 dùng ghế nhựa ném anh H1 nhưng không trúng, T9 còi dùng ly thủy tinh ném vào người anh H1. Khi anh H1 bị dồn vào góc trái nhà thì V đến dùng điếu cày hút thuốc lào bằng tre đánh vào vai trái 01 cái, T1 lấy điếu cày trên tay V đánh tiếp 01 cái vào vai anh H1. L dùng kệ để bình nước đánh 01 cái vào vai trái anh H1. Thấy anh H1 bị thương chảy máu nhiều và không chống cự được, V và đồng bọn bỏ đi. Hậu quả: Anh Đ1 bị thương tích tỷ lệ tổn thương cơ thể là 10%. Anh H1 bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 46%.
Ngày 06/3/2023, anh Phạm Văn Đ1 làm đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. Ngày 11/6/2024, anh Phạm Văn Đ1 có đơn rút yêu cầu khởi tố vụ án.
2. Về trách nhiệm dân sự:
2.1. Anh Nguyễn Ngọc H1 yêu cầu các bị cáo bồi thường cho anh H1 900.000.000 đồng (Chín trăm triệu đồng).
Các bị cáo đã bồi thường cho anh H1 số tiền như sau:
- Nguyễn Đình T 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng),
- Nguyễn Văn C2 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng),
- Mai Văn S 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng),
- Nguyễn Thanh L 8.000.000đ (Tám triệu đồng).
Hoàng Xuân V và Nguyễn Văn T10 chưa bồi thường cho anh H1;
2.2. Đinh Thanh L5 và Nguyễn Anh T8 đã bồi thường 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng) cho anh Phạm Văn Đ1 và anh Đ1 đã có đơn bãi nại xin rút yêu cầu khởi tố vụ án.
3. Quyết định của cấp sơ thẩm:
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 531/2024/HSST ngày 25/9/2024 và Thông báo sửa chữa, bổ sung bản án số: 25/2025/TB-TA ngày 10/02/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa đã tuyên xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Xuân V (V), Mai Văn S (B), Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Thanh L (T), Nguyễn Đình T (Mọi) và Nguyễn Văn C2 (Cường H3) phạm vào “Tội cố ý gây thương tích”.
Về hình phạt:
- Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (không áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo V và T1). Áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo V và bị cáo S.
Xử phạt bị cáo Hoàng Xuân V 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù.
Xử phạt bị cáo Mai Văn S 08 (tám) năm tù
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T1 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh L 07 (bảy) năm tù.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T. 06 (sáu) năm tù.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C2 05 (năm) năm tù.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về bồi thường, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
4. Kháng cáo, kháng nghị
4.1. Về kháng nghị:
Tại Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 9765/QĐ-VKSBH ngày 08/10/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã quyết định:
- Kháng nghị một phần bản án hình sự sơ thẩm số 531/2024/HSST ngày 25/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa do không viện dẫn Nghị quyết 03/2024/NQ-HĐTP ngày 10/6/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao dẫn đến việc xác định sai tình tiết tái phạm và tái phạm nguy
hiểm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Hoàng Xuân V và Mai Văn S; giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo Hoàng Xuân V, Mai Văn S, Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Thanh L;
- Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm áp dụng Nghị quyết 03/2024/NQ-HĐTP ngày 10/6/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để sửa lại một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 531/2024/HSST ngày 25/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa theo hướng không áp dụng tình tiết tái phạm và tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Hoàng Xuân V và Mai Văn S; giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo Hoàng Xuân V, Mai Văn S, Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Thanh L;
4.2. Về kháng cáo:
Ngày 27/9/2024, bị cáo Nguyễn Đình T có Đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do mức án 06 (sáu) năm tù là quá nặng.
5. Trình bày của người bào chữa; quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa và không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình T;
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đình T phân tích hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Đình T là đồng phạm giúp sức, không trực tiếp gây thương tích cho bị hại, nêu lên các tình tiết giảm nhẹ mới chưa được cấp sơ thẩm xem xét là hoàn cảnh gia đình khó khăn; gia đình có công với cách mạng; đã bồi thường cho bị hại số tiền 50.000.000 đồng, cao nhất trong số các bị cáo gây thương tích cho bị hại nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận Đơn kháng cáo và giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Nguyễn Đình T;
- Các bị cáo Hoàng Xuân V, Mai Văn S, Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Thanh L, Nguyễn Đình T đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tính chất phạm tội của các bị cáo là không có bàn bạc tổ chức trước, thương tích chính của bị hại (gây mù mắt) là do một đối tượng không xác định gây ra nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 9765/QĐ-VKSBH ngày 08/10/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa và Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình T được làm trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét nội dung Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 9765/QĐ-VKSBH ngày 08/10/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa và Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình T, Hội đồng xét xử xác định:
[2.1] Về nội dung vụ án và tội danh:
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Hoàng Xuân V, Mai Văn S, Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Thanh L, Nguyễn Đình T khai nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã xác định:
- Vào khoảng 22 giờ ngày 28/12/2021, tại quán B2 thuộc khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, thấy Hoàng Xuân V dùng tay kẹp cổ đánh anh Nguyễn Ngọc H1, anh Phạm Văn Đ1 (bạn anh H1) vào can ngăn thì bị V, Nguyễn Anh T8, Đinh Thanh L5, Nguyễn Thanh T1 và đối tượng Nguyễn Hùng C3 dùng ly thuỷ tinh, tay chân đánh gây thương tích cho anh Phạm Văn Đ1 với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 10%.
(Đối với Nguyễn Anh T8, Đinh Thanh L5, Hoàng Xuân V, Nguyễn Thanh T1 và đối tượng tên Nguyễn Hùng C3 (chưa rõ lai lịch) có hành vi dùng tay, ly thuỷ tinh đánh anh Đ1 gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 10%. Ngày 11/6/2024, anh Phạm Văn Đ1 đã rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với những người đã gây thương tích cho anh Đ1. Ngày 17/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B ra Quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự đối với bị can và Quyết định đình chỉ điều tra bị can đối với Đinh Thanh L5 và Nguyễn Anh T8 về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự và không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với V, T1 và C3 về hành vi này).
- Thấy anh Đ1 bị đánh, anh H1 lấy 01 dao Thái Lan dài khoảng 20 cm để phòng vệ thì bị V, Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Thanh L, Mai Văn S, Nguyễn Đình T, Nguyễn Văn C2, đối tượng tên T9 còi (không rõ lai lịch) và một số đối tượng khác chưa rõ lai lịch xông đến vây quanh, dồn vào góc nhà và có hành vi dùng ghế nhựa, ly thuỷ tinh, điếu cày, kệ để bình nước bằng inox...ném, đánh vào mắt trái, trán anh H1 gây thương tích (gây mù một mắt bên trái) với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 46%.
Do đó, án sơ thẩm xét xử các bị cáo Hoàng Xuân V, Mai Văn S, Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Thanh L, Nguyễn Đình T và Nguyễn Văn C2 về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm c (gây tổn hại sức khỏe cho người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%), nhưng thuộc các trường hợp quy định tại điểm a (dùng hung khí nguy hiểm), m (có tính chất côn đồ) thuộc khoản 1), khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ pháp luật.
[2.2] Về việc đánh giá vai trò, tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo đối với thương tích của bị hại cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của cấp sơ thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm xác định:
+ Đối tượng không rõ lại lịch dùng ghế nhựa đáng trúng phần chân ghế vào mắt trái gây thương tích cho bị hại (thương tích chính của bị hại) nên Hội đồng xét xử kiến nghị cơ quan có trách nhiệm tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật;
+ Bị cáo Hoàng Xuân V là người thực hiện tích cực hành vi gây thương tích cho bị hại (sử dụng điếu cày để đánh bị hại) nên bị cáo có vai trò chính trong vụ án. Cấp sơ thẩm khi lượng hình xác định: Ngoài tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, không áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự thì bị cáo còn phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, chưa bồi thường cho bị hại nên xử phạt bị cáo mức án 08 năm 06 tháng tù và trong phần nhận định chưa đánh giá hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự ;
+ Đối với bị cáo Mai Văn S dùng ly thủy tinh, chân ghế I đánh bị hại nên vai trò đứng sau bị cáo Hoàng Xuân V. Cấp sơ thẩm khi lượng hình xác định: Ngoài tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, đã bồi thường cho bị hại số tiền 20.000.000đ theo quy định khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự thì bị cáo còn phạm tội thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự nên cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 08 năm tù nhưng trong phần quyết định, cấp sơ thẩm chưa áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và trong phần nhận định chưa đánh giá tình tiết ra đầu thú theo quy định khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
+ Bị cáo Nguyễn Thanh T1 dùng điếu cày đánh bị hại nên vai trò đứng sau bị cáo Hoàng Xuân V và bị cáo Mai Văn S. Cấp sơ thẩm khi lượng hình xác
định: Ngoài tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo theo quy định s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, chưa bồi thường một phần cho bị hại nên xử phạt bị cáo 07 năm 06 tháng tù nhưng trong phần nhận định cấp sơ thẩm chưa đánh giá tình tiết ra đầu thú, chưa có tiền án tiền sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
+ Bị cáo Nguyễn Thanh L dùng kệ để bình nước đánh bị hại nên bị cáo có vai trò thấp hơn bị cáo Nguyễn Thanh T1. Cấp sơ thẩm khi lượng hình xác định: Ngoài tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo theo quy định s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, đã bồi thường cho bị hại số tiền 8.000.000₫ theo quy định khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 07 năm tù nhưng phần quyết định, cấp sơ thẩm chưa áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và trong phần nhận định chưa đánh giá tình tiết chưa có tiền án tiền sự theo quy định khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
+ Bị cáo Nguyễn Đình T dùng xô nhựa ném vào bị hại và bị trượt ngã nên đứng đậy cầm nồi lẩu đi về phía anh H1 dọa đánh nhưng không đánh và để nồi lẩu xuống bàn nên bị cáo có vai trò thấp hơn bị cáo Nguyễn Thanh L. Cấp sơ thẩm khi lượng hình xác định: Ngoài tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo theo quy định s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, đã bồi thường cho bị hại số tiền 50.000.000đ theo quy định khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 06 năm tù nhưng trong phần quyết định, cấp sơ thẩm chưa áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và chưa đánh giá tình tiết đồng phạm giúp sức, không trực tiếp gây thương tích cho bị hại;
Do đó, Hội đồng xét xử xác định các bị cáo phạm tội mang tính chất đồng phạm giản đơn (không có bàn bạc, tổ chức, phân công trong việc gây thương tích cho bị hại); thương tích chính của bị hại (gây mù mắt trái với tỷ lệ thương tật 41%) là do đối tượng không rõ lai lịch gây ra nên khi xem xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa cũng như kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình T cần được xem xét, đánh giá để có một mức hình phạt tù tương xứng với các bị cáo.
[2.3] Xét nội dung Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 9765/QĐ-VKSBH ngày 08/10/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Hội đồng xét xử xác định:
[2.3.1] Về nội dung bản án hình sự sơ thẩm số 531/2024/HSST ngày 25/9/2024 của Tòa án nhân dân TP . Biên Hòa do không áp dụng không viện dẫn Nghị quyết 03/2024/NQ-HĐTP ngày 10/6/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao dẫn đến việc xác định sai tình tiết tái phạm và tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Hoàng Xuân V và Mai Văn S:
- Theo hướng dẫn tại điểm 7 mục I Công văn 64/TAND-TC ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân tối cao: “Điều 70 của Bộ luật hình sự quy định về điều kiện đương nhiên được xóa án tích trong đó có điều kiện: Người bị kết án nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách của án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án. Như vậy, Bộ luật hình sự không quy định trường hợp loại trừ người bị kết án chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án với bất kỳ lý do gì. Hơn nữa, pháp luật thi hành án dân sự quy định nhiều phương thức để người phải thi hành có quyền lựa chọn như: Tự nguyện thi hành án, thỏa thuận thi hành án hoặc nhờ người nộp thay. Do vậy, trường hợp người bị kết án không nhận được thông báo và quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án nên chưa thi hành hình phạt bổ sung, chưa nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và các quyết định khác của bản án là chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án. Trong trường hợp này, người bị kết án không đương nhiên được xóa án tích theo quy định tại Điều 70 của Bộ luật hình sự”;
- Đối chiếu với trường hợp bị cáo Hoàng Xuân V, tại Giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù (BL155) thể hiện bị cáo chấp hành xong hình phạt tù của bản án hình sự sơ thẩm số 137/2007/HSST ngày 08/3/2007 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai vào ngày 31/8/2011 và còn ghi rõ hình phạt bổ sung là phải tiếp tục chấp hành là bồi thường dân sự 1,075 chỉ vàng 18K nhưng không có tài liệu thể hiện bị cáo đã thi hành) và đóng án phí HSST là 50.000 đồng (đã chấp hành xong);
- Đối chiếu với trường hợp bị cáo Mai Văn S thể hiện tại Công văn 1684/TGHK-GD ngày 03/12/2023 (BL173) thể hiện bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù của bản án 156/2016/HSST ngày 10/3/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa vào ngày 24/01/2018 và tương tự như bị cáo Hoàng Xuân V cũng được cấp giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù thể hiện hình phạt bổ sung phải thi hành thể hiện đối với phần án phí thì bị cáo được miễn nghĩa vụ nộp (do không nộp) và không có tài liệu thể hiện bị cáo bồ thường cho bị hại số tiền 25.906.041 đồng;
- Theo quy định tại Điều 3 Nghị quyết 03/2024/NQ-HĐTP ngày 10/6/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dân áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự về thời hiệu thi hành án bản án: “...Thời hiệu thi hành bản án đối với quyết định về bồi thường thiệt hại, án phí và quyết định khác về tài sản trong bản án hình sự được thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự”;
- Đối chiếu với các trường hợp của bị cáo Hoàng Xuân V, bị cáo Mai Văn S thì Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa khi kháng nghị chỉ căn cứ vào nội dung trong thời hạn quy định “không có yêu cầu của bị hại về về việc thi hành án” đến cơ quan thi hành án để xác định hết thời hiệu là chưa đầy đủ (chưa làm rõ lý do vì sao người bị hại không yêu cầu thi hành án để áp dụng thời hiệu – Hội đồng xét xử đã hoãn phiên tòa nhưng Viện kiểm sát không bổ sung được). Mặt khác, các bị cáo Hoàng Xuân V và bị cáo Mai Văn S có nhân thân nhiều lần bị Tòa án xét xử nhưng không có tài liệu thể hiện các bị cáo chủ động trong việc thực hiện nghĩa vụ của mình nhưng theo nguyên tắc có lợi cho các bị cáo thì Hội đồng xét xử xác định xem xét, đánh giá cho các bị cáo.
Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa về việc “không áp dụng Nghị quyết 03/2024/NQ-HĐTP ngày 10/6/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao dẫn đến việc xác định sai tình tiết tái phạm và tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Hoàng Xuân V và Mai Văn S”.
[2.3.2] Về nội dung kháng nghị giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo Hoàng Xuân V, Mai Văn S, Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Thanh L:
Như trong phần [2.2] và phần [2.3.1] đã phân tích, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa về việc giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo bị cáo Hoàng Xuân V, Mai Văn S, Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Thanh L.
[2.4] Xét nội dung Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình T, Hội đồng xét xử xác định:
Như trong phần [2.2] đã phân tích và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Đình T cung cấp tình tiết mới “Đơn xin cứu xét và Giấy xác nhận thân nhân người có công” (có xác nhận của chính quyền địa phương) thể hiện gia đình bị cáo Nguyễn Đình T có ông ngoại là Liệt sỹ, gia đình có công với cách mạng nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để chấp nhận đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Đình T.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận một phần kháng
nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa và chấp nhận Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình T, sửa một phần bản án sơ thẩm (do có tình tiết mới chưa được cấp sơ thẩm xem xét, đánh giá trong phần nhận định và quyết định của bản án sơ thẩm) theo hướng giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo Mai Văn S, Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Thanh L, Nguyễn Đình T.
[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Mai Văn S, Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Thanh L, Nguyễn Đình T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai và ý kiến của người bào chữa được Hội đồng xét xử thể hiện quan điểm như trên đã phân tích.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa; chấp nhận Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình T. Sửa bản án sơ thẩm.
1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Xuân V (V), Mai Văn S (B), Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Thanh L (T), Nguyễn Đình T (Mọi) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
2. Về hình phạt:
- Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm b khoản 1 Điều 51 (đối với các bị cáo S, L, T); khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 (đối với bị cáo V và bị cáo S); Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017)
2.1. Xử phạt bị cáo Hoàng Xuân V 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/02/2024.
2.2. Xử phạt bị cáo Mai Văn S 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/8/2023.
2.3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T1 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/10/2023.
2.4. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh L 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/8/2023.
2.5. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/9/2024 nhưng được trừ đi thời gian giam (giữ) trước (từ ngày 18/8/2023 đến ngày 08/11/2023).
3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng Nghị quyết 326/2014/UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Các bị cáo Mai Văn S, Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Thanh L, Nguyễn Đình T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Trần Phương Đông |
Bản án số 146/2025/HS-PT ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự phúc thẩm (tội cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 146/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Nội dung chính: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 21 giờ ngày 28/12/2021, Hoàng Xuân Vũ cùng Nguyễn Thanh Tình, Mai Văn Sỹ, Nguyễn Hùng Cường, Nguyễn Thị Mỹ Linh (không rõ lai lịch, là bạn gái của Vũ) đến nhậu tại tầng trệt quán ăn gia đình “Bông Lúa” thuộc khu phố 3, phường Tam Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Cùng lúc này trên lầu 1 quán Bông Lúa có 02 bàn khách khác (trong số đó có một số là bạn của Hoàng Xuân Vũ): Bàn thứ nhất gồm: Nguyễn Anh Tuấn (Tuấn ốm), Nguyễn Thanh Long, Đinh Thanh Lâm, Kiều và Sam (không rõ lai lịch). Bàn thứ hai có khoảng 10 người, trong đó có: Nguyễn Đình Toản, Nguyễn Văn Cường, Trung “còi” và một số người (chưa rõ lai lịch) là bạn của Cường và Toản. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, anh Phạm Văn Đam, anh Nguyễn Ngọc Hảo và chị Võ Thị Mỹ Hạnh đến quán Bông Lúa để ăn uống. Khi đi ngang qua bàn của Hoàng Xuân Vũ đi lên trên lầu 1, do nghĩ anh Hảo nhìn Linh (bạn của Vũ) nên Vũ đi theo anh Hảo lên lầu 1 gây sự. Vũ dùng tay kẹp cổ đấm vào đầu và mặt anh Hảo. Anh Đam thấy vậy liền can ngăn thì bị Vũ dùng tay đánh. Cùng lúc này, Nguyễn Anh Tuấn, Đinh Thanh Lâm, Nguyễn Thanh Tình xông vào đánh anh Đam. Tuấn và Lâm dùng ly thủy tinh đánh vào đầu anh Đam, anh Đam dùng hai tay ôm đầu thì bị thương ở hai tay. Nguyễn Hùng Cường cầm ghế nhựa, Tình dùng tay đánh Đam nhưng không trúng. Anh Đam bỏ chạy thoát. Tuấn và Lâm bỏ về bàn ngồi nhậu. Khi thấy anh Đam bị đánh, anh Hảo đi đến bàn dùng cho nhân viên lấy 01 con dao Thái Lan dài khoảng 20 cm cầm trên tay đưa dao ra phía trước đe doạ để phòng vệ thì Nguyễn Đình Toản đến hỏi vì sao cầm dao còn Vũ, Tình xông vào đánh. Lúc này Mai Văn Sỹ, Nguyễn Thanh Long, Nguyễn Văn Cường, Toản, Trung “còi” và một số người khác xông vào đuổi đánh anh Hảo. Anh Hảo bị một đối tượng (không rõ lai lịch) dùng ghế nhựa đánh trúng phần chân ghế vào mắt trái gây thương tích. Sau đó, anh Hảo tay ôm đầu che mắt di chuyển sang góc bên trái nhà thì bị Sỹ dùng ly uống bia bằng thủy tinh và kệ để bình nước bằng inox ném vào người anh Hảo. Toản dùng xô nhựa ném vào người anh Hảo và Toản bị trượt ngã, Toản đứng dậy và cầm nồi lẩu đi về phía anh Hảo nhưng không đánh và để nồi lẩu xuống bàn. Nguyễn Văn Cường dùng ghế nhựa ném anh Hảo nhưng không trúng, Trung còi dùng ly thủy tinh ném vào người anh Hảo. Khi anh Hảo bị dồn vào góc trái nhà thì Vũ đến dùng điếu cày hút thuốc lào bằng tre đánh vào vai trái 01 cái, Tình lấy điếu cày trên tay Vũ đánh tiếp 01 cái vào vai anh Hảo. Long dùng kệ để bình nước đánh 01 cái vào vai trái anh Hảo. Thấy anh Hảo bị thương chảy máu nhiều và không chống cự được, Vũ và đồng bọn bỏ đi. Hậu quả: Anh Đam bị thương tích tỷ lệ tổn thương cơ thể là 10%. Anh Hảo bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 46%. Ngày 06/3/2023, anh Phạm Văn Đam làm đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. Ngày 11/6/2024, anh Phạm Văn Đam có đơn rút yêu cầu khởi tố vụ án.
