|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 146/2025/HS - ST Ngày 30 - 5 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hiệp.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Đăng Cường
Ông Bùi Đức Nhân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Đức Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Hồ Sỹ Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 110/2025/TLST-HS ngày 25/4/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 119/2025/QĐXXST- HS ngày 14/5/2025 đối với bị cáo: Vương Thị P, sinh ngày 10/8/1977 tại tỉnh Quảng Ninh; Nơi thường trú: tổ C, khu Y, phường Y, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vương Đình P1 và bà Nguyễn Thị M; có chồng Cao Anh Q và 02 con; tiền sự: không; Tiền án: Ngày 30/6/2017 bị TAND quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; ngày 10/01/2019 bị TAND huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 28/4/2021 bị TAND thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 16/01/2023 bị TAND thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Nhân thân: Ngày 11/5/1999 bị TAND thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 20/5/2004 bị TAND thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 26/9/2005 bị TAND thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 17/5/2007 bị TAND thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; bị tạm giữ từ ngày 10/3/2025 tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt.
Bị hại: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1960; Nơi thường trú: tổ B, khu C, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
Người làm chứng: Anh Đỗ Anh T1, chị Bùi Thị Q1, anh Lê Anh T2, chị Đào Thị T3, chị Đàm Thị H, chị Nguyễn Thị H1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 7 giờ 45 phút ngày 09 tháng 3 năm 2025, tại quầy bán rau của chị Đàm Thị H tại chợ H2 02 thuộc tổ A, khu Y, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Vương Thị P có hành vi lén lút, trộm cắp 01 chiếc túi vải màu đen bên trong có 2.095.000 đồng của chị Nguyễn Thị T.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Vương Thị P khai nhận hành vi phạm tội như sau: Vào khoảng 7 giờ, ngày 09/3/2025, do thiếu tiền chi tiêu cá nhân bị cáo đi đến chợ H2 02 mục đích lợi dụng có ai sở hở để trộm cắp tài sản. Khoảng 7 giờ 45 phút, bị cáo đi đến khu vực bán hàng nông sản ở tầng 01 góc phía Đông bắc của chợ thấy chị Nguyễn Thị T đang mua rau tại quầy rau của chị Đàm Thị H, túi áo bên phải chị T có 01 chiếc túi vải màu đen thò ra, bị cáo nảy sinh ý định trộm cắp chiếc túi trên. Lợi dụng lúc chị T cúi người mua rau, bị cáo áp sát bên phải chị T, tay phải cầm bó rau giả vờ mua còn tay trái luồn vào túi kẹp chiếc túi vài. Sau khi lấy được chiếc túi vải bị cáo bỏ đi về phía khu vực bán quần áo. Bị cáo đi được khoảng 5 mét thì chị T phát hiện nên hô hoán và đuổi theo bị cáo, bị cáo chạy được khoảng 5 mét thì vất chiếc túi xuống đất rồi tiếp tục bỏ chạy, khi chạy được khoảng 10 mét thì bị Bảo vệ chợ bắt giữ được.
Bị hại chị Nguyễn Thị T có lời khai: Sáng ngày 09/3/2025, chị cất 2.200.000 đồng vào chiếc túi vải rồi cất vào túi áo khoác để đi chợ. Chị đã bỏ ra 105.000 đồng để mua rau của chị Q1, số tiền còn lại 2.095.000 đồng chị vẫn để ở trong chiếc túi vải cho đến lúc bị bị cáo P trộm cắp.
Những người làm chứng có lời khai xác nhận:
Lời khai của Chị Nguyễn Thị H1 và chị Bùi Thị Q1 phù hợp với lời khai của chị T, khi chị T lấy tiền trong túi các chị thấy chị T có nhiều tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng và 100.000 đồng, chị Q1 còn thấy chị T có 01 tờ tiền 500.000 đồng, các chị không biết chị T có bao nhiêu tiền nhưng ước chừng hơn hai triệu đồng.
Lời khai của chị Đàm Thị H, anh Đỗ Anh T1, anh Lê Anh T2, chị Đào Thị Thu C ban phù hợp với nhau: Các anh, chị đang ở chợ thì nghe thấy chị T hô cướp nên các anh, các chị đã chặn bị cáo P lại, bị cáo P khai là người trộm cắp chiếc túi của chị T. Các anh, chị đưa bị cáo P đi rà soát tìm chiếc túi nhưng không thấy nên đã đưa đến trụ sở Công an để làm việc.
Cáo trạng số: 2616/CT-VKSHL ngày 25/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long truy tố bị cáo Vương Thị P phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Kiểm sát viên trình bày luận tội, đưa ra các chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vương Thị P từ 30 đến 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 10/3/2025. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng; Về bồi thường dân sự: Vương Thị P đã tác động gia đình bồi thường 2.095.000 đồng cho chị Nguyễn Thị T, chị T không yêu cầu gì thêm nên không đề cập giải quyết; Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ 01 áo khoác, 01 quần dài, 01 đôi giày, 01 chiếc khẩu trang của Vương Thị P.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; bị hại không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, khẳng định việc truy tố, xét xử là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của những người làm chứng và các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa như: Đơn trình báo, biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, đơn xin đầu thú, biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử; bản ảnh nhận dạng, biên bản nhận dạng; biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường; Bản luận tội kiểm sát viên trình bày tại phiên tòa. Với những chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ của vụ án, ý kiến của kiểm sát viên, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Khoảng 7 giờ 45 phút ngày 09 tháng 3 năm 2025, tại quầy bán rau của chị Đàm Thị H tại chợ H2 02 thuộc tổ A, khu Y, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, bị cáo Vương Thị P có hành vi trộm cắp 01 chiếc túi vải màu đen bên trong có 2.095.000 đồng của chị Nguyễn Thị T. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm đối với xã hội; đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và gây mất trật tự trị án tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo sợ cho quần chúng nhân dân. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự (TNHS), phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp; bị cáo nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng do ý thức chấp hành pháp luật kém, lười lao động; trộm cắp tài sản mục đích có tiền chi tiêu cá nhân. Hành vi phạm tội của bị cáo đã thỏa mãn dấu hiệu và đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo có 08 tiền án về tội Trộm cắp tài sản, đã được xoá án tích 04 bản án, trong đó 04 bản án chưa được xoá án tích, nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm là tình tiết tăng nặng định khung; tội danh và hình phạt quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự, tội phạm thuộc trường hợp nghiêm trọng, tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn, có mức hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. Luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị xét xử đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật.
[3] Xét nhân thân, tình tiết giảm nhẹ TNHS và tăng nặng trách TNHS của bị cáo:
Về nhân thân: bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần phạm tội Trộm cắp tài sản.
Về tình tiết tăng nặng: không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo đã đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ này được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật mà cải tạo, giáo dục thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.
[4] Căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ TNHS và nhân thân của bị cáo cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo tôn trọng pháp luật, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, xét thấy bị cáo không có việc làm, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm bồi thường dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo bồi thường, nên HĐXX không xem xét giải quyết.
[8] Về vật chứng vụ án: 01 áo khoác dài tay có mũ, 01 quần bò màu ghi, 01 khẩu trang vải, 02 chiếc giày màu trắng là tài sản của bị cáo, bị cáo không đề nghị nhận lại và không còn giá trị sử dụng, HĐXX tịch thu tiêu hủy.
[9] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[10] Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xử phạt bị cáo Vương Thị P 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 10 tháng 3 năm 2025 về tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) áo khoác dài tay có mũ, 01 (một) quần bò màu ghi, 01 (một) khẩu trang vải, 02 (hai) chiếc giày màu trắng, tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 110/BB - THA ngày 06/02/2025 giữa Công an thành phố H và Chi cục THA dân sự thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.
Án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo Vương Thị P phải chịu 200.000 đồng.
Quyền kháng cáo bản án: bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trọng Hiệp |
Bản án số 146/2025/HS - ST ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về hình sự - trộm cắp tài sản
- Số bản án: 146/2025/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
