Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 146/2025/HS-ST

Ngày 21 - 3 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phú

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Thái Hòa

2/ Bà Huỳnh Thị Kim Kiên

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Anh T- cán bộ TAND thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện VKS nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, tham gia phiên tòa: Ông Đinh Quốc Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 3 năm 2025 tại Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 116/2025/HSST ngày 20 tháng 02 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 126/2025/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đinh Duy H, sinh năm 1986; Giới tính: Nam.

Nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường N, quận Đ, thành phố Hải Phòng.

Nơi ở hiện nay: Không nơi ở nhất định.

Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: kinh. Tôn giáo: Không.

Trình độ học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: Không. Chức vụ trước khi phạm tội: Không.

Con ông: T, sinh năm 1964 (còn sống) và bà H, sinh năm 1966 (còn sống).

Bị cáo là con duy nhất trong gia đình. Có vợ là B, sinh năm 1984; bị cáo có hai con: Con lớn sinh năm 2008 và con nhỏ sinh năm 2012. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị giam giữ từ ngày 04/12/2024. Hiện đang bị tạm giam tại phân trại tạm giam khu vực B (có mặt).

Bị hại: T, sinh năm: 1977

Địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện X, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 22/11/2024, H đi bộ đến phòng trọ của chị T để thu dọn đồ đạc thì chị T không có ở phòng nên H dùng chìa khoá mở cửa để vào phòng trọ. Khi đang dọn đồ thì H thấy trên nệm có để 01 (một) máy tính xách tay hiệu Macbook Air M2 kèm bộ dây sạc, 01 (một) ba lô đựng máy tính xách tay và 01 (một) túi xách nên H nảy sinh ý định trộm cắp các tài sản trên. Thực hiện ý định trên, H lấy bộ laptop bỏ vào trong ba lô và bỏ quần áo của H vào túi xách rồi rời khỏi phòng trọ của chị T. Sau đó, H đến tiệm cầm đồ “T5” tại số 54 đường H, tổ 1, khu phố 11, phường A, thành phố B do anh H (sinh năm 1991) làm chủ để cầm cố số tài sản trộm cắp được. Lúc này, H thấy trong ba lô có 01 (một) ví tiền, bên trong có 01 (một) thẻ căn cước công dân và 01 (một) thẻ ATM của chị T nên H giữ lại. Tiếp đó, H cầm 01 (một) bộ máy tính xách tay hiệu Macbook Air M2 và 01 (một) ba lô đựng máy tính xách tay cho anh Hảo với giá 11.000.000 đồng (Mười một triệu đồng). Số tiền này H đã tiêu xài vào mục đích cá nhân và còn lại 1.880.000 đồng (Một triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng).

Ngày 23/11/2024, chị T phát hiện bị mất tài sản và nghi ngờ H lấy trộm nên đã đến Công an phường L trình báo sự việc. Đến ngày 30/11/2024, chị T biết được H đang ở quán cà phê “C” tại số 93, phường C, Quận M, thành phố Hồ Chí Minh nên đã đến Công an phường C trình báo. Công an phường C mời H về trụ sở làm việc thì H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nên Công an phường C đã lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B để điều tra, xử lý.

Tại bản kết luận định giá số 410/KL-HĐĐGTS ngày 09/12/2024, của Hội đồng định giá tài sản thành phố B kết luận: “ 01 (một) máy tính xách tay hiệu Macbook Air M2 kèm bộ dây sạc, 01 (một) ba lô đựng máy tính xách tay, 01 (một) túi xách và 01 (một) ví tiền có tổng trị giá 21.563.300 đồng (Hai mươi mốt triệu năm trăm sáu mươi ba nghìn ba trăm đồng)".

Vật chứng của vụ án:

  • - 01 (một) máy tính xách tay hiệu Macbook Air M2 kèm bộ dây sạc, 01 (một) ba lô đựng máy tính xách tay, 01 (một) túi xách, 01 (một) ví tiền, 01 (một) thẻ ATM và 01 (một) căn cước công dân là tài sản của chị T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu hồi và trả lại cho chị T.
  • - Số tiền 1.880.000 đồng (một triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng) là số tiền H có được do phạm tội mà có, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu giữ.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone Xsmax là tài sản của H và không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho H.

Về trách nhiệm dân sự: Chị T đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thờng.

  • - Anh H không yêu cầu bồi thường.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Tại Cáo trạng số 145/CT-VKSBH ngày 17/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố bị cáo H về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự;

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên Cáo trạng truy tố bị cáo H về tội danh, điều luật áp dụng nói trên và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
  • Xử phạt bị cáo H mức án từ 01 (một) năm đến 01(một) năm 06(sáu) tháng tù.

Về xử lý vật chứng:

  • - 01 (một) máy tính xách tay hiệu Macbook Air M2 kèm bộ dây sạc, 01 (một) ba lô đựng máy tính xách tay, 01 (một) túi xách, 01 (một) ví tiền, 01 (một) thẻ ATM và 01 (một) căn cước công dân là tài sản của chị T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu hồi và trả lại cho chị T .
  • - Đề nghị tịch thu sung công quỹ số tiền 1.880.000 đồng (một triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng) là số tiền H có được do phạm tội mà có.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone Xsmax là tài sản của H và không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho H.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo có trong hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay là thống nhất, phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ.

Do vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Ngày 22/11/2024, tại phòng trọ số 7 thuộc dãy phòng trọ số 46/2, tổ 5, khu phố 6, phường L, thành phố B, H đã trộm cắp của chị T 01 (một) máy tính xách tay hiệu Macbook Air M2 kèm bộ dây sạc, 01 (một) ba lô đựng máy tính xách tay, 01 (một) túi xách và 01 (một) ví tiền có tổng trị giá 21.563.300đồng (Hai mươi mốt triệu năm trăm sáu mươi ba nghìn ba trăm đồng) thì bị bắt giữ để điều tra xử lý.

Tại bản kết luận định giá số 410/KL-HĐĐGTS ngày 09/12/2024, của Hội đồng định giá tài sản thành phố Biên Hòa kết luận: “ 01 (một) máy tính xách tay hiệu Macbook Air M2 kèm bộ dây sạc, 01 (một) ba lô đựng máy tính xách tay, 01 (một) túi xách và 01 (một) ví tiền có tổng trị giá 21.563.300 đồng (Hai mươi mốt triệu năm trăm sáu mươi ba nghìn ba trăm đồng)".

Bị cáo đồng ý với kết luận giám định và không khiếu nại thắc mắc gì.

Từ những phân tích trên, xét thấy Viện kiểm sát nhân dân thành phố B truy tố bị cáo H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng căn cứ pháp luật.

[3] Về tình tiết định khung hình phạt:

H có hành vi trộm cắp của chị T 01 (một) máy tính xách tay hiệu Macbook Air M2 kèm bộ dây sạc, 01 (một) ba lô đựng máy tính xách tay, 01 (một) túi xách và 01 (một) ví tiền có tổng trị giá 21.563.300 đồng (Hai mươi mốt triệu năm trăm sáu mươi ba nghìn ba trăm đồng) thì bị bắt giữ để điều tra xử lý. Hành vi của bị cáo H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt đối với bị cáo:

  • - Về tình tiết tăng nặng: Không có.
  • Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, sau khi xem xét đặc điểm nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt tù bị cáo trên mức khởi điểm của khung hình phạt mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

[5] Về vật chứng vụ án:

  • -01 (một) máy tính xách tay hiệu Macbook Air M2 kèm bộ dây sạc, 01 (một) ba lô đựng máy tính xách tay, 01 (một) túi xách, 01 (một) ví tiền, 01 (một) thẻ ATM và 01 (một) căn cước công dân là tài sản của chị T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu hồi và trả lại cho chị T là phù hợp.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone Xsmax là tài sản của H và không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa đã trả lại cho H là phù hợp.
  • -Tịch thu sung công quỹ số tiền 1.880.000 đồng (một triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng) là số tiền H có được do phạm tội mà có.

[6]Về trách nhiệm dân sự: Chị T đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi Tờng; anh H không yêu cầu bồi Tòng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[7] Về án phí: Áp dụng Điều 23, 26 và 27 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Đối với anh H nhận cầm cố tài sản của H nhưng không biết đó là tài sản do H phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hoà không xử lý hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo H phạm tội “Trộm cắp tài sản”
    • -Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
    • Xử phạt bị cáo H 01(một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/12/2024.
  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
    • - Tịch thu sung công quỹ số tiền 1.880.000 đồng (một triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng) là số tiền H có được do phạm tội mà có.
    • (Tại biên lai thu tiền số 01832 ngày 27/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B).
  3. Về án phí: - Áp dụng điều 58 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23, 26 và 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Tờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
    • Buộc bị cáo H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
    • Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND TP. B
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự TP. B;
  • - Phân trại tạm giam khu vực B;
  • - Bị cáo; những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HS, THS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Phú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 146/2025/HS-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 146/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đinh Duy Hoàng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger