Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

———————

Bản án số: 146/2025/HS-ST

Ngày: 02-4-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

— Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Hoài Nam

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Bùi Quang Việt
  2. Bà Thị Thị Tuyết Nhung

— Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

— Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Huỳnh Thiện– Kiểm sát viên.

Ngày 02/4/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 184/2025/TLST-HS, ngày 11/03/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1405/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Phạm Hoàng P, sinh năm 1987 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú:

Thôn Tân Tiến, xã ĐR, huyện ĐL, tỉnh Đắk Nông; Chỗ ở: 692/21/41 đường Đoàn Văn Bơ, Phường U, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Nhân viên giao hàng; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn C (chết) và bà Đinh Thị B; hoàn cảnh gia đình: Có vợ là Phan Thị Thu Y và 05 con (lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2021); tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị bắt giam từ ngày 03/11/2023 (Có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Phan Thị Thu H, sinh năm 1990

Địa chỉ: thôn Tân Tiến, xã ĐR, huyện ĐL, Đắk Nông

Chỗ ở: 264/10/15 Lê Văn Lương, Phường T, Quận V, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt)

Người bào chữa: Ông Trần Ngọc Hòa, luật sư của Công ty luật TNHH Hòa Trần thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh, bào chữa chỉ định cho bị cáo

Phạm Hoàng Phong (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 20 giờ 50 phút ngày 31/10/2023, Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Quận 1, phát hiện Phạm Hoàng P điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 48H1 - 305.37 chở con gái là cháu Phan Thị Bảo E (sinh năm 2007) đang dừng xe trước tòa nhà Aqua 1 - Vinhomes Golden River (số 02 đường Tôn Đức Thắng, phường Bến Nghé, Quận 1) có dấu hiệu nghi vấn, nên tiến hành kiểm tra, phát hiện trên tay phải P đang cầm 16,1366 gam ma túy, loại Ketamine, Methamphetamine, MDMA, Nimetazepam. P khai ma túy của P cất giữ để bán cho người khác, nên đã lập Biên bản vụ việc đối với P, cùng vật chứng, để xác minh làm rõ.

Lúc 23 giờ 10 phút ngày 31/10/2023, khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Hoàng P (số 692/21/41 đường Đoàn Văn Bơ, Phường U, Quận F) thu giữ các chất ma túy, gồm 6,2925 gam Methamphetamine; 17,4208 gam MDMA; 66,2836 gam Ketamine; 18,1358 gam Ketamine, Methamphetamine, MDMA, Nimetazepam.

Vật chứng là ma túy thu giữ của Phạm Hoàng P đã được giám định tại Kết luận giám định số 12351/KL-KTHS ngày 09/11/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 03/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 ra Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Phạm Hoàng P để điều tra về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Kết quả điều tra xác định, thông qua mối quan hệ xã hội, Phạm Hoàng P được Võ Trần Ngọc H thuê đi giao ma túy cho người mua theo yêu cầu của H, H trả tiền công cho P từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng/01 lần đi giao ma túy. H sử dụng tài khoản Telegram (đăng ký bằng số điện thoại 0932.222.xxx) liên lạc với P qua tài khoản Telegram (đăng ký bằng số điện thoại 0773.880.xxx), để giao ma túy cho P tại khu vực đường Đoàn Văn Bơ, Quận F. Sau đó, P đưa ma túy cất giấu tại chỗ ở của P (số 692/21/41, đường Đoàn Văn Bơ, Phường U, Quận F), để đi giao cho người mua theo yêu cầu của H. Trong đó, đã xác định được như sau:

Lần thứ nhất: Đầu tháng 09/2023, Phong nhận ma túy, loại Ketamine và MDMA (không rõ khối lượng), cất giấu tại chỗ ở của P (số 692/21/41, đường Đoàn Văn Bơ, Phường U, Quận F). Sau đó, đi giao cho người mua theo yêu cầu của H nhiều lần, số ma túy còn lại kém chất lượng bị khách trả lại P cất giấu tại nhà.

Lần thứ hai: Giữa tháng 10/2023, P nhận ma túy loại Ketamine, Methamphetamine và ma túy tổng hợp, loại Ketamine, Methamphetamine, MDMA, Nimetazepam (không rõ khối lượng), cất giấu tại chỗ ở của P (số 692/21/41, đường Đoàn Văn Bơ, Phường U, Quận F). Sau đó, nhiều lần đi giao cho người mua theo yêu cầu của H.

Đến ngày 31/10/2023, H yêu cầu P giao 16,1366 gam ma túy, loại Ketamine, Methamphetamine, MDMA, Nimetazepam cho người mua tại khu vực trước tòa nhà Aqua 1 - Vinhomes Golden River (số 02 đường Tôn Đức Thắng, phường N, Quận I) và nhận 21.000.000 đồng cho H, thì bị phát hiện như trên. Đối với các chất ma túy, gồm 6,2925 gam Methamphetamine; 17,4208 gam MDMA; 66,2836 gam Ketamine; 18,1358 gam Ketamine, Methamphetamine, MDMA, Nimetazepam, phát hiện thu giữ tại chỗ ở của P (số 692/21/41, đường Đoàn Văn Bơ, Phường U, Quận F) là ma túy của H đưa cho Phong cất giấu, để giao cho người mua. Mỗi lần giao ma túy xong, H trả công cho P tử 200.000 đồng đến 300.000 đồng. Tổng cộng, P thu lợi khoảng 2.000.000 đồng

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Phạm Hoàng P khai nhận hành vi như trên, phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác

Tại Bản cáo trạng số 150/CT-VKSTPHCM-P1 ngày 28/2/2025, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Phạm Hoàng P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo. Sau khi tóm tắt nội dung vụ án, phân tích, đánh giá những chứng cứ xác định hành vi phạm tội, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, hậu quả gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng P từ 16 đến 17 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Phạt bổ sung bị cáo 10 triệu đồng.

Và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Luật sư Trần Ngọc Hòa bào chữa cho bị cáo Phạm Hoàng P trình bày:

Luật sư thống nhất về tội danh mà Viện kiểm sát đề nghị truy tố, tuy nhiên cho rằng mức hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo là quá nghiêm khắc. Luật sư đề nghị xem xét bị cáo có hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, có 05 con đang tuổi ăn học, trình độ học vấn thấp, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt, bị cáo cũng tích cực giúp cho Công an truy bắt đối tượng H, từ đó giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp hơn đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tranh luận đối đáp:

Các tình tiết giảm nhẹ đã xét xử đối với bị cáo Phạm Hoàng P là phù hợp nên Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đánh giá hành vi, quyết định tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, người bào chữa đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Bị cáo và người bào chữa không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Đánh giá hành vi của bị cáo:

Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã được Cơ quan điều tra thu thập trong hồ sơ vụ án đã có cơ sở xác định:

Vào lúc 20 giờ 50 phút ngày 31/10/2023, trước tòa nhà Aqua 1, C/c Vinhomes Dolden River, địa chỉ số 02 Tôn Đức Thắng, phường B, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Phạm Hoàng P bị bắt quả tang đang có hành vi mua bán trái phép chất ma túy, thu giữ 16,1366 gam ma túy, loại Ketamine, Methamphetamine, MDMA, Nimetazepam. Số ma túy này P cất giữ để bán lại cho người khác. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Hoàng P tại số 692/21/41 đường Đoàn Văn Bơ, Phường U, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh thu giữ 6,2925 gam ma túy loại Methamphetamine; 17,4208 gam ma túy loại MDMA, 66,2836 gam ma túy loại Kietamine; 18,1358 game ma túy Ketamine, Methamphetamine, MDMA, Nimetazepam. Tổng khối lượng của các chất ma túy là 100,556 gam.

Xét bị cáo Phạm Hoàng P mua bán trái phép chất ma túy thuộc trường hợp “có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này” (cụ thể: điểm e là các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 100 gam đến dưới 300 gam).

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Phạm Hoàng P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn, xã hội. Do đó, cần phải xử lý nghiêm khắc trước pháp luật để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo P phạm tội thuộc trường hợp 02 lần trở lên nên cần áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự để áp dụng đối với bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hoàn cảnh khó khăn có 05 con nhỏ nên Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Đối với các đối tượng khác:

Đối với Võ Trần Ngọc H là người thuê Phạm Hoàng P giao ma túy cho người mua, kết quả điều tra chưa xác định được H đang ở đâu, nên chưa ghi rõ lời khai làm rõ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã ra quyết định truy tìm đối với H sẽ xem xét xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xét.

Đối với Phan Thị Thu Y (vợ của Phạm Hoàng P) và cháu Phan Thị Bảo E (con gái của P), kết quả điều tra xác định không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của P, nên không xem xét xử lý.

[5] Hình phạt bổ sung:

Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, có 05 con nhỏ nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng và tiền thu lợi bất chính:

Đối với 04 (bốn) gói niêm phong với các chữ ký ghi tên Giám định viên Đại úy Bùi Công Danh và Cán bộ điều tra Lê Anh Kế, ghi các vụ số 2381/23 – Q1 (gói 1), 2381/23 – Q1 (gói 2), 2381/23 – Q1 (gói 3), 2381/23 – Q1 (gói 4); bên trong là mẫu vật còn lại sau giám định, mã số: NP/286BB/2025, là vật chứng cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) bịch nylon, 01(một) túi nylon đựng đôi vớ màu xanh, Mã số: NYLON/286BB/2025 và nhiều gói nylon màu đỏ, mã số: LT/286BB/2025, là vật chứng không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động Oppo. (không kiểm tra đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong), Mã số: DT/286BB/2025, của bị cáo P, là phương tiện phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

- Đối với 01 chiếc xe hai bánh gắn máy, nhãn hiệu không xác định, số loại không xác định, dung tích xi lanh không xác định, BS: 48H1-305.37, SK: RLHJK0318NY567133, SM: JK03E-2571468 (không gương, dàn nhựa bể, xe cũ rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra), mã số : XMAY/286BB/2025, do bà Phan Thị Thu Y (vợ của Phạm Hoàng P) đứng tên chủ sở hữu, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bà Phan Thị Thu Hà.

- Bị cáo P thu lợi bất chính 2.000.000 đồng nên buộc bị cáo nộp lại.

[7] Về án phí:

Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Xử phạt: Bị cáo Phạm Hoàng P 16 (mười sáu) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 03/11/2023.

[3] Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Buộc bị cáo Phạm Hoàng P phải nộp lại 2.000.000 (hai triệu) đồng tiền thu lợi bất chính.

* Tịch thu tiêu hủy:

  • 04 (bốn) gói niêm phong với các chữ ký ghi tên Giám định viên Đại úy Bùi Công Danh và Cán bộ điều tra Lê Anh Kế, ghi các vụ số 2381/23 – Q1 (gói 1), 2381/23 – Q1 (gói 2), 2381/23 – Q1 (gói 3), 2381/23 – Q1 (gói 4); bên trong là mẫu vật còn lại sau giám định, mã số: NP/286BB/2025
  • 01 (một) bịch nylon, 01(một) túi nylon đựng đôi vớ màu xanh, Mã số: NYLON/286BB/2025;
  • Nhiều gói nylon màu đỏ, mã số: LT/286BB/2025;

* Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước:

  • 01 (một) điện thoại di động Oppo. (không kiểm tra đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong), Mã số: DT/286BB/2025;

* Trả lại cho bà Phan Thị Thu Y: 01 (một) chiếc xe hai bánh gắn máy, nhãn hiệu không xác định, số loại không xác định, dung tích xi lanh không xác định, BS: 48H1-305.37, SK: RLHJK0318NY567133, SM: JK03E-2571468 (không gương, dàn nhựa bể, xe cũ rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra), Mã số : XMAY/286BB/2025

Theo Biên bản giao nhận tang tài vật số NK2025/286 ngày 01/4/2025 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

[3] Căn cứ Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao; (1)
  • - TAND cấp cao tại Tp.HCM (1)
  • - VKSND cấp cao tại Tp.HCM (1)
  • - VKSND Tp.HCM; (3)
  • - Cục THA DS Tp.HCM; (1)
  • - Sở Tư pháp Tp.HCM; (1)
  • - Trại giam; (2)
  • - Bị cáo; (1)
  • - Người có QLNVLQ; (2)
  • - THAHS TAND TP.HCM; (2)
  • - Phòng PV06 - CA TP.HCM; (1)
  • - Ủy ban nơi bị cáo cư trú; (2)
  • - Lưu: VT, THS, hồ sơ; (21) (4)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Hoài Nam

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 146/2025/HS-ST ngày 02/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 146/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger