|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P THÀNH PHỐ H |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 146/2025/HNGĐ-ST Ngày: 30-6-2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thúc Mỹ.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Mai Thị Toán.
- Ông Lê Hồng Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trà Thị Mỹ Ngọc- Thư ký Tòa án nhân dân huyện P, thành phố H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Tiên - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện P, thành phố H (Số B Đường H, thị trấn P, huyện P, thành phố H) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 80/2025/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1980. Địa chỉ: Thôn V, xã P, huyện P, thành phố H. Địa chỉ liên lạc: đường L, xã V, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Ông Lê Đình V, sinh năm 1977. Địa chỉ: Xóm A, thôn X, xã P, huyện P, thành phố H. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 05/4/2025, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị S trình bày như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị S và ông Lê Đình V quen biết nhau thông qua sự giới thiệu của hai bên gia đình, sau một thời gian tìm hiểu nhau thì kết hôn, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, thành phố H ngày 05/01/2002. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau tại nhà bố mẹ ông V ở thôn X, xã P sau đó chuyển lên nhà bố mẹ bà S tại thôn V, xã P. Sinh sống tại xã P được hơn 10 năm thì vợ chồng chuyển vào thành phố Hồ Chí Minh làm ăn, sinh sống. Đến năm 2014 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cải vã, xúc phạm lẫn nhau. Vợ chồng sống ly thân từ 2021 khi ông V về quê sinh sống cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà S xin được ly hôn với ông V.
- Về con chung: Bà Nguyễn Thị S khai vợ chồng có 03 con chung là cháu Lê Minh T, sinh ngày 28/8/2001 (đã lập gia đình), cháu Lê Đình Quang V1, sinh ngày 02/11/2006, cháu Lê Đình Quang T1, sinh ngày 18/10/2012, hiện ở cùng với bà S. Bà S có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lê Đình Quang T1 đến khi thành niên, đủ 18 tuổi. Không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu Minh T, cháu Quang V1 đều đã trên 18 tuổi, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị S khai không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình thụ lý giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, các giấy triệu tập và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa để bị đơn ông Lê Đình V đến tham gia tố tụng tại Tòa án nhưng ông V vẫn vắng mặt nên không có lời khai.
Quá trình giải quyết vụ án, cháu Lê Đình Quang T1, sinh ngày 18/10/2012 có đơn trình bày nguyện vọng xin được ở với mẹ.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký đều chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, không có kiến nghị gì cần khắc phục.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị S, cho bà S được ly hôn ông V. Về con chung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà S, để cho bà S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lê Đình Quang T1, sinh ngày 18/10/2012 đến khi thành niên, đủ 18 tuổi. Về tài sản chung và nợ chung, bà S không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét. Về án phí: Buộc bà S phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị S có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông Lê Đình V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần để tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan, không có đơn xin xét xử vắng mặt, nên căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông V không đến làm việc, không cung cấp tài liệu, chứng cứ là tự chối bỏ thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Do đó, Tòa án căn cứ các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và tài liệu thu thập được để giải quyết vụ án.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị S và ông Lê Đình V chung sống với nhau, đã thực hiện đầy đủ các thủ tục về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam nên là hôn nhân hợp pháp.
Xét về yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị S, thấy rằng: Theo kết quả thu thập tài liệu, chứng cứ, lời khai của bà S, quá trình Tòa án điều tra, xác minh thu thập chứng cứ, có cơ sở xác định nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên mâu thuẫn, vợ chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, vợ chồng ly thân đã một thời gian dài. Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông Lê Đình V không đến Tòa làm việc, là thể hiện thái độ không có thiện chí hàn gắn quan hệ vợ chồng với bà Nguyễn Thị S. Nhận thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Nguyễn Thị S được ly hôn với ông Lê Đình V là đúng quy định pháp luật.
[3] Về con chung: Bà S, ông V có 03 người con chung là Lê Minh T, sinh ngày 28/8/2001 (đã lập gia đình), cháu Lê Đình Quang V1, sinh ngày 02/11/2006 (đã trên 18 tuổi), cháu Lê Đình Quang T1, sinh ngày 18/10/2012. Hiện đang được bà S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Xét thấy, sau khi vợ chồng sống ly thân, bị đơn không quan tâm, chăm sóc con chung, điều kiện thực tế ông V không đảm bảo để trực tiếp chăm sóc tốt cho con; cháu Lê Đình Quang T1 cũng có nguyện vọng được sống với mẹ. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt, đảm bảo tính ổn định của cháu T1, cần giao cho bà Nguyễn Thị S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên, đủ 18 tuổi. Đối với cháu Minh T, cháu Quang V1 đã trên 18 tuổi nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Về cấp dưỡng nuôi con: Theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình thì người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Quá trình giải quyết, Tòa án đã giải thích cho bà S rõ về các quy định của Luật hôn nhân gia đình về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con. Tuy nhiên, bà S không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị S không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[5] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị S chịu án phí ly hôn 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị S, cho bà Nguyễn Thị S được ly hôn ông Lê Đình Vĩnh . Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Giao cháu Lê Đình Quang T1, sinh ngày 18/10/2012 cho bà Nguyễn Thị S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên, đủ 18 tuổi. Ông Lê Đình V không cấp dưỡng tiền nuôi cháu Lê Đình Quang T1. Đối với hai cháu Lê Minh T, sinh ngày 28/8/2001, cháu Lê Đình Quang V1, sinh ngày 02/11/2006 đã trên 18 tuổi nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án không giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị S phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng; được khấu trừ hết số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà S đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Vang theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí 0002624 ngày 11/4/2025.
- Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thúc Mỹ |
Bản án số 146/2025/HNGĐ-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ H về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 146/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ H
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Sảy xin ly hôn với Lê Đình Vĩnh và tranh chấp nuôi con
