Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC HÒA

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 146/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 20-6-2025

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Như

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Đổi

Ông Nguyễn Chí Lin

- Thư ký phiên tòa: Bà Kiều Thị Tùng Khương là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 294/2025/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Trình Văn T, sinh năm 1983; địa chỉ: Ấp Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1986; địa chỉ: Ấp Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

(Ông T có đơn xin xét xử vắng mặt, bà T1 vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 06/3/2025, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn là ông Trình Văn T trình bày:

Ông và bà Nguyễn Thị T1 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ vào ngày 14/7/2020. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, tuy nhiên về sau trong công việc và cuộc sống hằng ngày vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẩn không thể hàn gắn được. Nhận thấy, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể duy trì quan hệ hôn nhân được nữa nên ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà T1.

Về con chung: có 02 con chung tên là Trình Gia Bảo N, sinh ngày 10/9/2009 và Trình Gia Hoàng N1, sinh ngày 09/7/2019. Khi ly hôn, ông T yêu cầu nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu bà T1 cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Ông T không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông T có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

Bị đơn bà Nguyễn Thị T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do và không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Trình Văn T khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với bà Nguyễn Thị T1. Bà T1 đang cư trú tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. Quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp về hôn nhân và gia đình; thẩm quyền giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về việc xét xử vắng mặt các đương sự: Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt; Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[2.1] Về hôn nhân: Ông Trình Văn T và bà Nguyễn Thị T1 tự nguyện sống chung và đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ vào ngày 14/7/2020 nên hôn nhân giữa ông T và bà T1 là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình. Ông T trình bày quá trình chung sống giữa bà và bà T1 đã phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống chung không còn hạnh phúc. Do vậy, ông T yêu cầu ly hôn với bà T1. Bị đơn bà T1 đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng có liên quan đến yêu cầu khởi kiện của ông T nhưng vắng mặt và không có ý kiến gửi cho Tòa án. Điều này cho thấy bà T1 không có mong muốn hàn gắn tình cảm với ông T, mâu thuẫn giữa ông T và bà T1 là có thật, quan hệ hôn nhân của hai bên đã lâm vào tình trạng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, việc ông T kiên quyết ly hôn với bà T1 là có cơ sở, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Theo đơn khởi kiện và các tài liệu do ông T cung cấp thì ông T và bà T1 có 02 con chung tên là Trình Gia Bảo N, sinh ngày 10/9/2009 và Trình Gia Hoàng N1, sinh ngày 09/7/2019. Quá trình giải quyết vụ án, ông

T yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung, bà T1 vắng mặt nên không có ý kiến, nên cần chấp nhận yêu cầu của ông T.

Về cấp dưỡng nuôi con, ông T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét việc cấp dưỡng nuôi con trong vụ án này.

[2.3] Về chia tài sản chung, nợ chung: nguyên đơn không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Buộc Ông Trình Văn T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 6, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 85, 86 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 18, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Trình Văn T về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” đối với bà Nguyễn Thị T1.

1.1.Về hôn nhân: Ông Trình Văn T được ly hôn với Bà Nguyễn Thị T1.

1.2. Về nuôi con chung: Giao con chung tên Trình Gia Bảo N, sinh ngày 10/9/2009 và Trình Gia Hoàng N1, sinh ngày 09/7/2019 cho ông T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà Nguyễn Thị T1 không phải cấp dưỡng nuôi con.

Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở. Trường hợp bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì bên trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở bên không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

Khi thấy cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bên trực tiếp nuôi con, bên không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

1.3. Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không giải quyết.

2. Về án phí: Buộc Ông Trình Văn T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, khấu trừ vào 300.000 đồng số tiền tạm ứng án phí mà ông T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010220 ngày 06/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, ông T đã nộp đủ.

3. Án xử sơ thẩm công khai, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Chí Lin – Trần Thị Đổi Lê Thị Ngọc Như

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện Đức Hòa;
  • - Chi cục THADS huyện Đức Hòa;
  • - UBND xã Đức Lập Thượng, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An (để biết);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Ngọc Như

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 146/2025/HNGĐ-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 146/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trình Văn Thuận "ly hôn" Dương Thị Thía
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger