Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC HÒA

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 146/2025/DS-ST

Ngày: 16 - 6 - 2025

V/v tranh chấp

“Hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Bình An

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Thanh Hoàng
  2. Ông Nguyễn Chí Lin

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Trà – là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 805/2024/TLST-DS ngày 22 tháng 10 năm 2024 về việc tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 226/2025/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 153/2025/QĐST-DS ngày 30/5/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty cổ phần M.

Địa chỉ: Tầng A, Tòa nhà C, số B phố T, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Anh T – Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Ngọc D – Trưởng phòng Xử lý nợ Miền Nam.

Người đại diện theo ủy quyền lại của ông Võ Ngọc D: Bà Võ Thái Thi T1 – Chuyên viên xử lý nợ; Bà Lưu Huyền T2 – Chuyên viên xử lý nợ (Theo Văn bản ủy quyền ngày 03/8/2024); Ông Trần Minh S – Chuyên viên xử lý nợ (Theo Văn bản ủy quyền ngày 27/5/2025). (Bà T1, Bà T2 vắng mặt, ông S có mặt).

Bị đơn:

  1. Ông Hoàng Huy H, sinh năm 1969 (xin vắng mặt);
  2. Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1977 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ngân hàng TMCP V.

Địa chỉ: Tòa V, số H L, quận Đ, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D1 – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Duy Đ – Chuyên viên xử lý nợ (Theo Văn bản ủy quyền ngày 02/12/2024) (xin vắng mặt).

  1. Ông Huỳnh Văn C, sinh năm 1974.

Địa chỉ: Tổ G, ấp S, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh (xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 25 tháng 9 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Võ Thái Thi T1, tại phiên tòa ông Trần Minh S đại diện trình bày:

Căn cứ theo Hợp đồng mua bán nợ số 01/2024/VPB-JUPITER ngày 29/06/2024 và (các) Phụ lục đính kèm giữa Ngân hàng TMCP V (V1) với Công Ty Cổ phần M thì V1 đồng ý bán và Công Ty Cổ phần M đồng ý mua (các) khoản nợ của khách hàng vay là: ông Hoàng Huy H và bà Nguyễn Thị T3, bao gồm các khoản nợ gốc, nợ lãi, nợ lãi quá hạn, tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác (nếu có) phát sinh theo các Hợp đồng tín dụng/Hợp đồng cho vay mà ông Hoàng Huy H và bà Nguyễn Thị T3 đã ký kết với V1. Công ty Cổ phần M là tổ chức được chuyển giao quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về dân sự được xác định là người kế thừa quyền, nghĩa vụ của Ngân hàng TMCP V. Các hợp đồng vay cụ thể như sau:

Hợp đồng cho vay số: LN2212057672923 ngày 13/12/2023 giải ngân theo khế ước nhận nợ kèm theo. Số tiền vay: 8.000.000.000 đồng (Tám tỷ đồng). Thời hạn vay: 192 tháng. Mục đích sử dụng vốn: Vay mua BĐS theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 219293, Số vào sổ cấp GCN: CS05062 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh T cấp ngày 07/12/2018. Từ ngày 10/01/2024, ông Hoàng Huy H và bà Nguyễn Thị T3 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ vay cho V1. Tạm tính đến ngày 10/4/2025, tổng dư nợ của khoản vay trên là: Nợ gốc: 7.997.167.725 đồng; Nợ lãi trong hạn: 134.629.155 đồng; Nợ lãi quá hạn: 1.658.079.027 đồng; Lãi chậm trả: 16.761.609 đồng. Tổng nợ: 9.806.637.516 đồng (Chín tỷ tám trăm lẻ sáu triệu sáu trăm ba mươi bảy nghìn năm trăm mười sáu đồng).

Hợp đồng cho vay số: LN2212308017073 ngày 10/01/2023 giải ngân theo khế ước nhận nợ kèm theo. Số tiền vay: 3.000.000.000 đồng (Ba tỷ đồng). Thời hạn vay: 24 tháng. Mục đích sử dụng vốn: Bổ sung vốn lưu động vào HKD tạp hóa T3. Từ ngày 10/01/2024, ông Hoàng Huy H và bà Nguyễn Thị T3 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ vay cho V1. Tạm tính đến ngày 10/4/2025, tổng dư nợ của khoản vay trên là: Nợ gốc: 815.990.646 đồng; Nợ lãi trong hạn: 28.247.796 đồng; Nợ lãi quá hạn: 535.265.710 đồng; Lãi chậm trả: 3.761.213 đồng. Tổng nợ: 1.383.265.365 đồng (Một tỷ một trăm tám mươi ba triệu hai trăm sáu mươi lăm nghìn ba trăm sáu mươi lăm đồng).

Hợp đồng cho vay số: LN2311030763820 ngày 13/11/2023 giải ngân theo khế ước nhận nợ kèm theo. Số tiền vay: 3.000.000.000 đồng (Ba tỷ đồng). Thời hạn vay: 120 tháng. Mục đích sử dụng vốn: Vay tiêu dùng mua sắm vật dụng gia đình. Từ ngày 15/01/2024, ông Hoàng Huy H và bà Nguyễn Thị T3 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ vay cho V1. Tạm tính đến ngày 10/4/2025, tổng dư nợ của khoản vay trên là: Nợ gốc: 2.975.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 30.491.439 đồng; Nợ lãi quá hạn: 661.672.603 đồng; Lãi chậm trả: 3.767.572 đồng. Tổng nợ: 3.670.931.614 đồng (Ba tỷ sáu trăm bảy mươi triệu chín trăm ba mươi mốt nghìn sáu trăm mười bốn đồng).

Hợp đồng cho vay số: LN2301058073891 ngày 10/01/2023 giải ngân theo khế ước nhận nợ kèm theo. Số tiền vay: 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng). Thời hạn vay: 120 tháng. Mục đích sử dụng vốn: Vay tiêu dùng mua sắm vật dụng gia đình. Từ ngày 15/02/2024, ông Hoàng Huy H và bà Nguyễn Thị T3 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ vay cho V1. Tạm tính đến ngày 10/4/2025, tổng dư nợ của khoản vay trên là: Nợ gốc: 900.004.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 12.468.396 đồng; Nợ lãi quá hạn: 190.258.380 đồng. Lãi chậm trả: 1.434.720 đồng. Tổng nợ: 1.104.165.496 đồng (Một tỷ một trăm lẻ bốn triệu một trăm sáu mươi lăm nghìn bốn trăm chín mươi sáu đồng).

Tài sản thế chấp để bảo đảm cho số tiền vay tại các hợp đồng tín dụng nêu trên: Toàn bộ quyền sử dụng đất thửa đất số 424, tờ bản đồ số 26, tọa lạc tại ấp S, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của ông Hoàng Huy H và bà Nguyễn Thị T3. Theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ219293, số vào sổ cấp GCN: CS05062 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường Tỉnh T cấp ngày 07/12/2018, cập nhật chuyển mục đích sử dụng đất ngày 23/07/2019; cập nhật thay đổi thông tin chủ sở hữu/sử dụng lần cuối ngày 22/12/2022. Tài sản được thế chấp tại V1 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng: 21; quyển số 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD được lập tại Văn phòng C1 (Hợp đồng sửa đổi bổ sung theo hợp đồng số 01/PLHĐ ngày 09/01/2023 và Hợp đồng sửa đổi bổ sung theo hợp đồng số 02/PLHĐ ngày 07/11/2023), được đăng ký thế chấp ngày 04/01/2023 tại Chi nhánh Văn phòng Đ1 để thu hồi toàn bộ khoản vay. Việc đăng ký giao dịch bảo đảm được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

Tạm tính đến ngày 16/6/2025, tổng số tiền ông Hoàng Huy H và bà Nguyễn Thị T3 còn nợ là: 16.175.316.147 đồng (trong đó tổng nợ gốc 12.688.162.371 đồng, nợ lãi là: 3.487.153.776 đồng).

Công ty cổ phần M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • - Buộc ông Hoàng Huy H và bà Nguyễn Thị T3 phải liên đới thanh toán cho Công ty Cổ Phần M một lần với tỷ lệ: 90% trên số tiền nợ gốc, nợ lãi, tiền lãi chậm trả và các khoản phát sinh liên quan theo Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ. Khoản nợ của ông Hoàng Huy H và bà Nguyễn Thị T3 sẽ được chia theo tỷ lệ theo đúng thỏa thuận theo quy định tại Điểm a, Khoản 2, Điều 1 của Hợp đồng mua bán nợ số 01/2024/VPB-JUPITER giữa Công ty M và V1, tạm tính đến ngày 16/6/2025 là: 14.557.784.532 đồng (trong đó tổng nợ gốc 11.419.346.134 đồng, nợ lãi là: 3.138.438.398 đồng).
  • - Buộc ông Hoàng Huy H và bà Nguyễn Thị T3 phải liên đới thanh toán cho Công ty Cổ Phần M số tiền lãi và lãi chậm trả theo đúng thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng và các khế ước nhận nợ kèm theo kể từ ngày 17/6/2025 cho đến khi ông Hoàng Huy H và bà Nguyễn Thị T3 thanh toán xong toàn bộ số nợ cho Công ty Cổ Phần M.
  • - Trong trường hợp ông Hoàng Huy H, bà Nguyễn Thị T3 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, Công ty Cổ Phần M có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho Công ty Cổ Phần M là: Toàn bộ quyền sử dụng đất với thửa đất số: 424, tờ bản đồ số: 26, tọa lạc tại địa chỉ: Ấp S, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của ông Hoàng Huy H và bà Nguyễn Thị T3. Theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ219293, số vào sổ cấp GCN: CS05062 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường Tỉnh T cấp ngày 07/12/2018, cập nhật chuyển mục đích sử dụng đất ngày 23/07/2019; cập nhật thay đổi thông tin chủ sở hữu/sử dụng lần cuối ngày 22/12/2022.

Ngoài ra, không còn yêu cầu gì khác.

Bị đơn ông Hoàng Huy H trình bày tại Bản tự khai ngày 04/3/2025:

Ông H xác nhận ông cùng vợ là bà Nguyễn Thị T3 có vay tiền tại Ngân hàng TMCP V (V1) theo các Hợp đồng cho vay số LN2212057672923 ngày 13/12/2023, Hợp đồng cho vay số LN2212308017073 ngày 10/01/2023, Hợp đồng cho vay số LN2311030763820 ngày 13/11/2023, Hợp đồng cho vay số LN2301058073891 ngày 10/01/2023. Số tiền vay và thời hạn vay đúng theo nội dung các hợp đồng đã thể hiện. Ngân hàng đã giải ngân cho ông đầy đủ theo các khoản vay.

Để đảm bảo cho các khoản vay, ông và bà T3 đã thế chấp: Toàn bộ quyền sử dụng đất thửa đất số 424, tờ bản đồ số 26, tọa lạc tại ấp S, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của ông Hoàng Huy H và bà Nguyễn Thị T3. Theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ219293, số vào sổ cấp GCN: CS05062 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường Tỉnh T cấp ngày 07/12/2018, cập nhật chuyển mục đích sử dụng đất ngày 23/07/2019; cập nhật thay đổi thông tin chủ sở hữu/sử dụng lần cuối ngày 22/12/2022. Tài sản được thế chấp tại V1 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng: 21; quyển số 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD được lập tại Văn phòng C1 (Hợp đồng sửa đổi bổ sung theo hợp đồng số 01/PLHĐ ngày 09/01/2023 và Hợp đồng sửa đổi bổ sung theo hợp đồng số 02/PLHĐ ngày 07/11/2023), được đăng ký thế chấp ngày 04/01/2023 tại Chi nhánh Văn phòng Đ1 để thu hồi toàn bộ khoản vay. Việc đăng ký giao dịch bảo đảm được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật

Nay, Công Ty Cổ phần M mua lại số nợ của ông H và bà T3 từ Ngân hàng TMCP V (V1), thì ông đồng ý trả cho Công Ty Cổ phần M và Ngân hàng TMCP V (V1) số tiền gốc và lãi còn nợ và các khoản lãi phát sinh (lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi phạt) cho đến khi trả xong số nợ theo đúng tỷ lệ mua bán giữa Công Ty Cổ phần M và Ngân hàng TMCP V.

Trong trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì ông đồng ý để Ngân hàng yêu cầu phát mãi tài sản đã thế chấp để thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

Tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 28/3/2025, hiện trạng thửa đất số 424, tờ bản đồ số 26, tọa lạc tại ấp S, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh là đất trống, không có công trình, vật kiến trúc gì trên đất, do ông Huỳnh Văn C đang thuê để trồng cây mì trên đất.

Bị đơn bà Nguyễn Thị T3: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý, các văn bản tố tụng cần thiết, đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và các thủ tục theo pháp luật quy định nhưng bị đơn bà Nguyễn Thị T3 vẫn vắng mặt không có lý do, cũng không có bất cứ văn bản nào phản hồi ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP V do ông Trần Duy Đ đại diện trình bày:

Căn cứ theo Hợp đồng mua bán nợ số 01/2024/VPB-JUPITER ngày 29/06/2024 và (các) Phụ lục đính kèm giữa Ngân hàng TMCP V (V1) với Công Ty Cổ phần M thì V1 đồng ý bán và Công Ty Cổ phần M đồng ý mua (các) khoản nợ của khách hàng vay là: ông Hoàng Huy H và bà Nguyễn Thị T3, bao gồm các khoản nợ gốc, nợ lãi, nợ lãi quá hạn, tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác (nếu có) phát sinh theo các Hợp đồng tín dụng/Hợp đồng cho vay mà ông Hoàng Huy H và bà Nguyễn Thị T3 đã ký kết với V1 như sau: Hợp đồng cho vay số LN2212057672923 ngày 13/12/2023, Hợp đồng cho vay số LN2212308017073 ngày 10/01/2023, Hợp đồng cho vay số LN2311030763820 ngày 13/11/2023, Hợp đồng cho vay số LN2301058073891 ngày 10/01/2023.

Ngân hàng TMCP V yêu cầu Toà án giải quyết:

  • - Buộc ông Hoàng Huy H và bà Nguyễn Thị T3 phải liên đới thanh toán cho Ngân hàng TMCP V (V1) một lần với tỷ lệ: 10% trên số tiền nợ gốc, nợ lãi, tiền lãi chậm trả và các khoản phát sinh liên quan theo Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ. Khoản nợ của ông Hoàng Huy H và bà Nguyễn Thị T3 sẽ được chia theo tỷ lệ theo đúng thỏa thuận theo quy định tại Điểm a, Khoản 2, Điều 1 của Hợp đồng mua bán nợ số 01/2024/VPB-JUPITER giữa Công ty M và V1 tạm tính đến ngày 16/6/2025 là: 1.617.531.615 đồng (trong đó tổng nợ gốc 1.268.816.237 đồng, nợ lãi là: 348.715.378 đồng).
  • - Buộc ông Hoàng Huy H và bà Nguyễn Thị T3 phải liên đới thanh toán cho Ngân hàng TMCP V (V1) số tiền lãi và lãi chậm trả theo đúng thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng và các khế ước nhận nợ kèm theo kể từ ngày 17/6/2025 cho đến khi ông Hoàng Huy H và bà Nguyễn Thị T3 thanh toán xong toàn bộ số nợ cho Ngân hàng TMCP V (V1).
  • - Ngân hàng TMCP V (V1) có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho V1: Toàn bộ quyền sử dụng đất thửa đất số 424, tờ bản đồ số 26, tọa lạc tại ấp S, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của ông Hoàng Huy H và bà Nguyễn Thị T3. Theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ219293, số vào sổ cấp GCN: CS05062 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường Tỉnh T cấp ngày 07/12/2018, cập nhật chuyển mục đích sử dụng đất ngày 23/07/2019; cập nhật thay đổi thông tin chủ sở hữu/sử dụng lần cuối ngày 22/12/2022. Tỷ lệ thu hồi nợ theo tỷ lệ đã qui định trong hợp đồng mua bán nợ giữa Ngân hàng TMCP V (V1) với Công Ty Cổ phần M.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Văn C trình bày:

Ông là người thuê thửa đất số 424, tờ bản đồ số 26, tọa lạc tại ấp S, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh để trồng cây mì, thuê hằng năm, cuối vụ sẽ thanh toán tiền thuê đất cho chủ đất và trả lại đất. Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng ông không có ý kiến, ông không có yêu cầu, hay tranh chấp liên quan đến vụ án. Ông không đề nghị Tòa án giải quyết liên quan đến hợp đồng thuê đất. Ông xin vắng mặt trong tất cả các phiên làm việc và xét xử của Tòa án.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An:

  • - Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử vụ án, những người tiến hành tố tụng và nguyên đơn đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Riêng bị đơn đã không thực hiện đúng các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về nội dung: Căn cứ vào Hợp đồng mua bán nợ số 01/2024/VPB-JUPITER ngày 29/06/2024 và (các) Phụ lục đính kèm giữa Ngân hàng TMCP V (V1) với Công Ty Cổ phần M thì V1 đồng ý bán và Công Ty Cổ phần M đồng ý mua (các) khoản nợ của khách hàng vay là: ông Hoàng Huy H và bà Nguyễn Thị T3, bao gồm các khoản nợ gốc, nợ lãi, nợ lãi quá hạn, tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác (nếu có) phát sinh theo các Hợp đồng tín dụng/Hợp đồng cho vay mà ông Hoàng Huy H và bà Nguyễn Thị T3 đã ký kết với V1. Công ty Cổ phần M là tổ chức được chuyển giao quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về dân sự được xác định là người kế thừa quyền, nghĩa vụ của Ngân hàng TMCP V

Căn cứ vào hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp, lời trình bày của các đương sự, thấy rằng giữa ông H và bà T3 với Ngân hàng TMCP V (V1) có tồn tại hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp và bị đơn đã không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần M, chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của Ngân hàng TMCP V (V1).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ các kết quả xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Quan hệ tranh chấp là “Hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Hoàng Huy H, bà Nguyễn Thị T3 có địa chỉ tại ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Sau khi thụ lý vụ án, nguyên đơn có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải. Tòa án đã thực hiện thủ tục mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Các chứng cứ của vụ án đã được giao nộp đầy đủ và được công khai đúng thủ tục. Vụ án được đưa ra xét xử là đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị đơn bà Nguyễn Thị T3 vắng mặt đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai; ông Hoàng Huy H, ông Trần Duy Đ, ông Huỳnh Văn C có đơn xin vắng mặt; căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2]. Về yêu cầu khởi kiện:

[2.1] Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ và lời trình bày của ông Trần Minh S (đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn), ông Hoàng Huy H trong quá trình giải quyết vụ án, thấy rằng giữa Ngân hàng TMCP V (V1) với ông Hoàng Huy H, bà Nguyễn Thị T3 có ký kết các Hợp đồng cho vay số LN2212057672923 ngày 13/12/2023, Hợp đồng cho vay số LN2212308017073 ngày 10/01/2023, Hợp đồng cho vay số LN2311030763820 ngày 13/11/2023, Hợp đồng cho vay số LN2301058073891 ngày 10/01/2023. Số tiền vay là do Ngân hàng TMCP V (V1) cho ông H, bà T3 vay tiền tại Ngân hàng TMCP V (V1). Tài sản đảm bảo nợ vay là quyền sử dụng đất thửa đất số 424, tờ bản đồ số 26, tọa lạc tại ấp S, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của ông Hoàng Huy H và bà Nguyễn Thị T3. Theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ219293, số vào sổ cấp GCN: CS05062 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường Tỉnh T cấp ngày 07/12/2018, cập nhật chuyển mục đích sử dụng đất ngày 23/07/2019; cập nhật thay đổi thông tin chủ sở hữu/sử dụng lần cuối ngày 22/12/2022 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng: 21; quyển số 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD được lập tại Văn phòng C1 (Hợp đồng sửa đổi bổ sung theo hợp đồng số 01/PLHĐ ngày 09/01/2023 và Hợp đồng sửa đổi bổ sung theo hợp đồng số 02/PLHĐ ngày 07/11/2023), được đăng ký thế chấp ngày 04/01/2023 tại Chi nhánh Văn phòng Đ1.

Tuy nhiên, quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, ông Hoàng Huy H, bà Nguyễn Thị T3 vi phạm nghĩa vụ thanh toán như đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, đến nay thời hạn cho vay đã hết nhưng ông H, bà T3 vẫn chưa thanh toán gốc và lãi cho Ngân hàng. Ông Hoàng Huy H cũng có lời trình bày thừa nhận vẫn chưa thanh toán gốc và lãi cho Ngân hàng, và đồng ý thanh toán tiền gốc và lãi cho Ngân hàng.

Căn cứ theo Hợp đồng mua bán nợ số 01/2024/VPB-JUPITER ngày 29/06/2024 và (các) Phụ lục đính kèm giữa Ngân hàng TMCP V (V1) với Công Ty Cổ phần M thì V1 đồng ý bán và Công Ty Cổ phần M đồng ý mua (các) khoản nợ của khách hàng vay là: ông Hoàng Huy H và bà Nguyễn Thị T3, bao gồm các khoản nợ gốc, nợ lãi, nợ lãi quá hạn, tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác (nếu có) phát sinh theo các Hợp đồng tín dụng/Hợp đồng cho vay mà ông Hoàng Huy H và bà Nguyễn Thị T3 đã ký kết với V1. Công ty Cổ phần M là tổ chức được chuyển giao quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về dân sự được xác định là người kế thừa quyền, nghĩa vụ của Ngân hàng TMCP V theo tỷ lệ Công ty Cổ Phần M được nhận 90% trên số tiền nợ gốc, nợ lãi, tiền lãi chậm trả và các khoản phát sinh liên quan theo Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ; Ngân hàng TMCP V (V1) được nhận 10% trên số tiền nợ gốc, nợ lãi, tiền lãi chậm trả và các khoản phát sinh liên quan theo Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ.

Căn cứ vào bản chiết tính lãi do Công ty Cổ Phần M và Ngân hàng TMCP V (V1) cung cấp, số tiền gốc, lãi ông Hoàng Huy H và bà Nguyễn Thị T3 còn nợ: Nợ Công ty Cổ Phần M số tiền 14.557.784.532 đồng (trong đó tổng nợ gốc 11.419.346.134 đồng, nợ lãi là: 3.138.438.398 đồng); Nợ và Ngân hàng TMCP V (V1) số tiền 1.617.531.615 đồng (trong đó tổng nợ gốc 1.268.816.237 đồng, nợ lãi là: 348.715.378 đồng)

Từ phân tích trên, xét yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ Phần M và yêu cầu độc lập của Ngân hàng TMCP V (V1) về việc yêu cầu ông Hoàng Huy H và bà Nguyễn Thị T3 trả tiền vay và lãi theo các Hợp đồng cho vay số LN2212057672923 ngày 13/12/2023, Hợp đồng cho vay số LN2212308017073 ngày 10/01/2023, Hợp đồng cho vay số LN2311030763820 ngày 13/11/2023, Hợp đồng cho vay số LN2301058073891 ngày 10/01/2023 là có căn cứ, phù hợp với Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự.

[2.2] Về biện pháp bảo đảm:

Các đương sự có lời trình bày thống nhất tài sản đảm bảo nợ vay của các Hợp đồng cho vay số LN2212057672923 ngày 13/12/2023, Hợp đồng cho vay số LN2212308017073 ngày 10/01/2023, Hợp đồng cho vay số LN2311030763820 ngày 13/11/2023, Hợp đồng cho vay số LN2301058073891 ngày 10/01/2023 là quyền sử dụng đất thửa đất số 424, tờ bản đồ số 26, tọa lạc tại ấp S, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của ông Hoàng Huy H và bà Nguyễn Thị T3. Theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ219293, số vào sổ cấp GCN: CS05062 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường Tỉnh T cấp ngày 07/12/2018, cập nhật chuyển mục đích sử dụng đất ngày 23/07/2019; cập nhật thay đổi thông tin chủ sở hữu/sử dụng lần cuối ngày 22/12/2022 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng: 21; quyển số 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD được lập tại Văn phòng C1 (Hợp đồng sửa đổi bổ sung theo hợp đồng số 01/PLHĐ ngày 09/01/2023 và Hợp đồng sửa đổi bổ sung theo hợp đồng số 02/PLHĐ ngày 07/11/2023), được đăng ký thế chấp ngày 04/01/2023 tại Chi nhánh Văn phòng Đ1.

Do đó, trong trường hợp ông Hoàng Huy H và bà Nguyễn Thị T3 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền nợ, Công ty Cổ Phần M và Ngân hàng TMCP V (V1) có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp trên để thu hồi nợ theo tỷ lệ Công ty Cổ Phần M được nhận 90% trên số tiền nợ gốc, nợ lãi, tiền lãi chậm trả và các khoản phát sinh liên quan theo Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ; Ngân hàng TMCP V (V1) được nhận 10% trên số tiền nợ gốc, nợ lãi, tiền lãi chậm trả và các khoản phát sinh liên quan theo Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ là phù hợp.

Căn cứ vào Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 28/3/2025, hiện trạng thửa đất số 424, tờ bản đồ số 26, tọa lạc tại ấp S, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh là đất trống, không có công trình, vật kiến trúc gì trên đất, do ông Huỳnh Văn C đang thuê để trồng cây mì trên đất. Ông C không có ý kiến liên quan đến yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Khi Công ty Cổ Phần M và Ngân hàng TMCP V (V1) có yêu cầu giao đất thì ông C sẽ bàn giao đất nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[2.3]. Về lãi suất: Ông Hoàng Huy H và bà Nguyễn Thị T3 có nghĩa vụ tiếp tục trả lãi phát sinh trên số tiền nợ theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong các Hợp đồng cho vay số LN2212057672923 ngày 13/12/2023, Hợp đồng cho vay số LN2212308017073 ngày 10/01/2023, Hợp đồng cho vay số LN2311030763820 ngày 13/11/2023, Hợp đồng cho vay số LN2301058073891 ngày 10/01/2023 từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (17/6/2025) cho đến khi thanh toán xong khoản nợ là phù hợp.

[2.4]. Từ những phân tích trên, xét yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ Phần M và yêu cầu độc lập của Ngân hàng TMCP V (V1) là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An về việc chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.

[3]. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 5.000.000 đồng. Công ty Cổ Phần M đã nộp tạm ứng nên ông Hoàng Huy H và bà Nguyễn Thị T3 có trách nhiệm hoàn trả lại cho Công ty Cổ Phần M số tiền 5.000.000 đồng.

[4]. Về án phí: Ông Hoàng Huy H và bà Nguyễn Thị T3 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1, 2 Điều 91, khoản 2,3 Điều 95, điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng;

Căn cứ Điều 7 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao;

Căn cứ Điều 12, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ Phần M và yêu cầu độc lập của Ngân hàng TMCP V (V1) đối với ông Hoàng Huy H và bà Nguyễn Thị T3 về việc tranh chấp “Hợp đồng tín dụng”:
    1. Buộc ông Hoàng Huy H và bà Nguyễn Thị T3 có trách nhiệm liên đới thanh toán cho Công ty Cổ Phần M số tiền 14.557.784.532 đồng – Mười bốn tỷ năm trăm năm mươi bảy triệu bảy trăm tám mươi bốn ngàn năm trăm ba mươi hai đồng (trong đó tổng nợ gốc 11.419.346.134 đồng, nợ lãi là: 3.138.438.398 đồng).
    2. Buộc ông Hoàng Huy H và bà Nguyễn Thị T3 có trách nhiệm liên đới thanh toán cho Ngân hàng TMCP V (V1) số tiền 1.617.531.615 đồng – Một tỷ sáu trăm mười bảy triệu năm trăm ba mươi mốt ngàn sáu trăm mười lăm đồng (trong đó tổng nợ gốc 1.268.816.237 đồng, nợ lãi là: 348.715.378 đồng).
  2. Kể từ ngày 17/6/2025 đến khi thi hành xong số tiền trên, ông Hoàng Huy H và bà Nguyễn Thị T3 phải trả cho Công ty Cổ Phần M và Ngân hàng TMCP V (V1) tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại các Hợp đồng cho vay số LN2212057672923 ngày 13/12/2023, Hợp đồng cho vay số LN2212308017073 ngày 10/01/2023, Hợp đồng cho vay số LN2311030763820 ngày 13/11/2023, Hợp đồng cho vay số LN2301058073891 ngày 10/01/2023 tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả theo tỷ lệ Công ty Cổ Phần M được nhận 90% trên số tiền nợ gốc, nợ lãi, tiền lãi chậm trả và các khoản phát sinh liên quan theo Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ; Ngân hàng TMCP V (V1) được nhận 10% trên số tiền nợ gốc, nợ lãi, tiền lãi chậm trả và các khoản phát sinh liên quan theo Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ.

  3. Trường hợp ông Hoàng Huy H và bà Nguyễn Thị T3 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ, thì Công ty Cổ Phần M và Ngân hàng TMCP V (V1) được quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất thửa đất số 424, tờ bản đồ số 26, tọa lạc tại ấp S, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của ông Hoàng Huy H và bà Nguyễn Thị T3. Theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ219293, số vào sổ cấp GCN: CS05062 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường Tỉnh T cấp ngày 07/12/2018, cập nhật chuyển mục đích sử dụng đất ngày 23/07/2019; cập nhật thay đổi thông tin chủ sở hữu/sử dụng lần cuối ngày 22/12/2022 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng: 21; quyển số 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD được lập tại Văn phòng C1 (Hợp đồng sửa đổi bổ sung theo hợp đồng số 01/PLHĐ ngày 09/01/2023 và Hợp đồng sửa đổi bổ sung theo hợp đồng số 02/PLHĐ ngày 07/11/2023), được đăng ký thế chấp ngày 04/01/2023 tại Chi nhánh Văn phòng Đ1 để đảm bảo thi hành án; ông Hoàng Huy H và bà Nguyễn Thị T3 có trách nhiệm giao tài sản trên để cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc xử lý tài sản thế chấp.
  4. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: ông Hoàng Huy H và bà Nguyễn Thị T3 có trách nhiệm liên đới hoàn trả lại cho Công ty Cổ Phần M số tiền 5.000.000 đồng. Khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
  5. Về án phí: Ông Hoàng Huy H và bà Nguyễn Thị T3 phải nộp 124.175.316 đồng án phí dân sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.

H1 lại cho Công ty Cổ Phần M số tiền 60.545.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0006002 ngày 15/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa.

H1 lại cho Ngân hàng TMCP V (V1) số tiền 28.371.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0014772 ngày 13/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa.

Án xử sơ thẩm và tuyên án công khai, đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thanh Hoàng Đỗ Bình An
Nguyễn Chí Lin

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện Đức Hòa;
  • - Chi cục THADS huyện Đức Hòa;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu)

Đỗ Bình An

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 146/2025/DS-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 146/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công ty cổ phần MBN JUPITER " Tranh chấp hợp đồng tín dụng " Hoàng Huy Hiệu, Nguyễn Thị Thắm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger