|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 146/2025/DS-PT
Ngày: 07 và 10/3/2025
V/v Tranh chấp đòi tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Anh Tuấn | |
| Các Thẩm phán: | Bà: Đặng Mai Hoa |
| Ông: Đàm Văn Thuận |
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Đức - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân: Bà Đặng Thị Sơn Cầm - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Trong các ngày 07 và 10 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 618/2024/TLPT-DS ngày 16 tháng 12 năm 2024, về việc “ Tranh chấp đòi tài sản".
Do bản án dân sự sơ thẩm số 209/2024/DS-ST ngày 21 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2025/QĐPT-DS ngày 07 tháng 02 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 81/2025/QĐPT-HPTDS ngày 18 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 100/2025/QĐPT-HPTDS ngày 27 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1953
Nơi thường trú: C03 Khu nhà ở T, số E phố T, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo uỷ quyền của bà Nguyễn Thị B: Bà Đàm Thùy D, sinh năm 1987; Nơi đăng ký thường trú: 108C - E7, phường T, quận T, thành phố Hà Nội; Địa chỉ liên hệ: Số E, ngách B, ngõ D H, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội theo Giấy uỷ quyền ngày 07/9/2023.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị B: Luật sư Đàm Thùy D, Công ty L - Đoàn luật sư thành phố H.
Bị đơn: Công ty cổ phần V
Trụ sở: Số E phố T, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Viết C - Tổng Giám đốc; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thái D1, sinh năm 1989; Nơi thường trú: P2020-HH3C-CC6 L, phường H, quận H, thành phố Hà Nội và ông Đậu Quốc D2, sinh năm 1991; Nơi thường trú: Số I ngõ F đường N, khối X, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An theo Văn bản uỷ quyền số 11/2024/UQ-VDI ngày 11/7/2024.
Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị B là nguyên đơn trong vụ án.
Tại phiên toà có mặt: bà D1, ông D1 và ông D2; vắng mặt: bà B và ông C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, các lời khai tại Toà án và tại phiên tòa nguyên đơn là bà Nguyễn Thị B và người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn là bà Đàm Thùy D trình bày:
Bà Nguyễn Thị B và Công ty cổ phần V (Sau đây viết tắt là Chủ đầu tư) cùng kí Hợp đồng mua bán nhà ở số C3/HĐMB ngày 07/01/2020 để mua căn nhà số C, khu nhà ở T, tại số E phố T, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội (Sau đây viết tắt là Căn nhà). Đầu năm 2020, Chủ đầu tư đã bàn giao thô Căn nhà cho gia đình bà B.
Để có thể vào ở, gia đình bà B phải hoàn thiện Căn nhà trên. Khi gia đình bà B thông báo về việc hoàn thiện Căn nhà thì Chủ đầu tư và Ban Quản lý khu nhà ở số E, phố T, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội (sau đây viết tắt là Ban quản lý) thông qua ông Trần Quốc B1 - Phó Tổng Giám đốc Công ty CP V gửi tin nhắn cho con trai bà B là anh Nguyễn Ngọc H yêu cầu gia đình bà B phải đặt cọc số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng), để đảm bảo việc hoàn thiện Căn nhà theo đúng quy chuẩn xây dựng chung của khu nhà số E, phố T, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội (Sau đây gọi tắt là Khu nhà) thì mới cho gia đình bà B tiến hành hoàn thiện Căn nhà. Lý do Chủ đầu tư và Ban quản lý đưa ra là khi hoàn thiện xong, nếu gia đình bà B vi phạm quy định chung của khu nhà thì sẽ trừ tiền cọc này, còn nếu gia đình bà B không vi phạm gì Chủ đầu tư sẽ hoàn trả ngay khi có biên bản nghiệm thu với Ban quản lý. Theo yêu cầu này, bà B đã ủy quyền cho con trai là anh Nguyễn Ngọc H chuyển số tiền đặt cọc để thực hiện việc hoàn thiện Căn nhà vào tài khoản số 26010000399998, tại Ngân hàng TMCP Đ chi nhánh M vào ngày 03/06/2020.
Đến cuối năm 2020, gia đình bà B đã hoàn thiện Căn nhà theo đúng các quy định của Khu nhà và Ban quản lý đã cử người xuống tiến hành lập Biên bản nghiệm thu việc hoàn thiện Căn nhà vào ngày 16/10/2021. Ngày 08/02/2021, gia đình bà B đã được Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Số CY 999484. Tuy nhiên, từ đó đến nay, gia đình bà B do anh Nguyễn Ngọc H là đại diện đã nhiều lần liên hệ và yêu cầu phía Ban quản lý cùng cá nhân ông Trần Quốc B1 đề nghị hoàn lại số tiền trên, nhưng không có kết quả. Lý do ông Trần Quốc B1 nêu ra là phía Ban Quản lý và các bộ phận có liên quan của Chủ đầu tư chưa trình lên hồ sơ để hoàn tiền cọc. Còn đại diện Ban Quản lý thì nói rằng đã nộp về Chủ đầu tư và các bộ phận có liên quan.
Để giải quyết và thu hồi khoản tiền trên, bà B đã phải ký Hợp đồng dịch vụ pháp lý với Công ty L đại diện cho bà B làm việc với Chủ đầu tư. Chi phí thuê Công ty luật giải quyết vụ việc cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà B là 30.000.000 đồng. Chi phí này phát sinh là do hành vi vi phạm nghĩa vụ thanh toán của Chủ đầu tư.
Như vậy, Chủ đầu tư và Ban quản lý đã không thực hiện đúng các cam kết với gia đình bà B, có dấu hiệu chiếm dụng tiền cọc mà gia đình bà B đã nộp, gây thiệt hại nghiêm trọng cho gia đình bà B, xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của bà B.
Bà B khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết buộc: Công ty cổ phần V hoàn trả cho gia đình bà số tiền tạm tính đến ngày 15/7/2023 là 87.684.931 đồng, trong đó: số tiền cọc Công ty cổ phần V đã nhận là 50.000.000 đồng; số tiền lãi chậm trả tạm tính từ ngày 01/01/2022 đến ngày 15/07/2023 (561 ngày) theo khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự 2015 với lãi suất chậm trả: 10%/năm là: 50.000.000 đồng x 10%/năm x 561 ngày = 7.684.931 đồng và số tiền chi phí thuê Luật sư là 30.000.000 đồng.
Tại Biên bản hoà giải bà B đã xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu bị đơn bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và chi phí phát sinh cho việc thuê Luật sư tham gia bảo vệ quyền lợi của của nguyên đơn là 30.000.000 đồng. Tại phiên toà sơ thẩm, đại diện uỷ quyền của nguyên đơn tiếp tục yêu cầu bị đơn bồi thường số tiền trên.
Bị đơn là Công ty cổ phần V, trình bày:
Công ty cổ phần V xác nhận đã nhận đặt cọc của nguyên đơn số tiền 50.000.000 đồng vào ngày 03/6/2020. Việc đặt cọc này để đảm bảo chủ nhà tuân thủ đúng qui định về xây dựng hoàn thiện nội thất khu nhà ở và qui định của pháp luật trong quá trình thi công xây dựng.
Theo qui định của Hợp đồng mua bán nhà ở tại Điều 7.2 và Điều 7.3 Phụ lục 3 - Nội qui khu phố) thì trong thời gian chủ nhà thi công xây dựng, chủ nhà phải đóng phí quản lý thi công, an ninh trật tự và vệ sinh môi trường cho Chủ đầu tư/ban quản lý khu nhà theo qui định của Chủ đầu tư. Khoản phí này sẽ được khấu trừ vào tiền đặt cọc.
Quá trình hoàn thiện căn nhà, bà B và gia đình đã vi phạm nghĩa vụ cam kết theo thoả thuận đặt cọc và chưa hoàn thành việc khắc phục hậu quả của việc vi phạm, cụ thể tại Biên bản nghiệm thu công trình trước khi đưa vào khai thác sử dụng ngày 16/10/2021 có sự xác nhận của đại diện Công ty cổ phần V và gia đình bà B có nội dung “Tầng tum chủ nhà có cơi nới tum thang máy lên cao 2,7m, vượt cos hoàn thiện căn nhà được cấp phép là 2,1m (cos hoàn thiện theo Giấy phép xây dựng là +17,0m” và kết luận “ ý kiến của Chủ đầu tư: Đề nghị chủ nhà hoàn nguyên theo bản vẽ Giấy phép xây dựng được UBND quận Đ phê duyệt. Ý kiến của chủ nhà: Đối với các phần cơi nới cải tạo, chủ nhà sẽ tự chịu trách nhiệm đối với các cơ quan chức năng của nhà nước khi có yêu cầu kiểm tra".
Ngày 01/8/2020, Công ty cổ phần V đã có văn bản Thông báo tới nguyên đơn về việc vi phạm của nguyên đơn trong việc nâng mái tum cao hơn 2,7m so với phê duyệt, điều này vi phạm qui định về xây dựng và qui hoạch tổng mặt bằng, phương án kiến trúc của khu nhà ở đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, làm ảnh hưởng đến mỹ quan chung của khu nhà ở. Ngày 22/3/2024, Công ty cổ phần V đã có Công văn số 223/2024/CV-VDI gửi đến nguyên đơn yêu cầu tháo dỡ phần xây dựng vi phạm và hoàn thiện kiến trúc mặt ngoài theo hồ sơ thiết kế, nếu quá thời hạn nguyên đơn không thực hiện thì chủ đầu tư sẽ tạm ngừng cung cấp dịch vụ nước cho căn hộ song nguyên đơn vẫn giữ nguyên hiện trạng. Do vậy, Công ty V1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 209/2024/DS-ST ngày 21/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội đã xử:
1. Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị B đối với Công ty cổ phần V về việc yêu cầu hoàn trả tiền đặt cọc 50.000.000 đồng và tiền lãi chậm trả, phí thuê luật sư 30.000.000 đồng.
Ngoài ra bản án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Không đồng ý với bản án sơ thẩm: ngày 25/8/2024 bà Nguyễn Thị B có đơn kháng, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ nội dung Bản án sơ thẩm số 209/2024/DS-ST ngày 21/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo; bị đơn giữ nguyên các ý kiến đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ mới và xác nhận do bị đơn vi phạm về thiết kế xây dựng nên đến nay bị đơn chưa tính toán cụ thể các chi phí thi công cụ thể gia đình bà B phải trả và không yêu cầu Toà án giải quyết các chi phí thi công trong vụ án này; các đương sự không hoà giải, giải quyết vụ án. Các đương sự xác nhận ngoài các tài liệu chứng cứ đã xuất trình cho Tòa án thì không còn chứng cứ nào khác xuất trình cho Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Các đương sự trong vụ án chấp hành quyền, nghĩa vụ theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Sau khi phân tích các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và trình bày của đương sự tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhân một phần kháng cáo của bà Nguyễn Thị B; Áp dụng khoản 02 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, sửa Bản án sơ thẩm số 209/2024/DS-ST ngày 21/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc Công ty cổ phần V trả lại bà B số tiền đặt cọc là 50.000.000 đồng; không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về số tiền bồi thường thiệt hại và chi phí thuê luật sư. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận; Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị B là người cao tuổi và có đơn đề nghị được miễn án phí nên được miễn nộp án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 2 Luật Người cao tuổi và quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả hỏi và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị B đảm bảo về chủ thể, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 271, 272 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự nên việc kháng cáo là hợp lệ. Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội giải quyết là đúng thẩm quyền.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Đối với yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả lại số tiền đã đặt cọc, xét thấy: Bà Nguyễn Thị B và Công ty cổ phần V xác nhận đã ký Hợp đồng mua bán nhà ở số: C3/HĐMB ngày 07/01/2020 để mua căn nhà số C, Khu N, số E phố T, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội. Đầu năm 2020, Công ty cổ phần V đã bàn giao thô căn nhà trên cho gia đình bà B. Để có thể vào ở, gia đình bà B đã tiến hành việc hoàn thiện căn nhà.
Việc đặt cọc được quy định tại điểm 7.2 và 7.3 Điều 7 Phụ lục 3 kèm theo Hợp đồng mua bán nhà ở có nội dung: “Cư dân có trách nhiệm đặt cọc cho Chủ đầu tư hoặc Ban quản lý một khoản tiền là 50 triệu đồng (“Tiền đặt cọc thi công”)” và “Trong thời gian cư dân thi xây dựng để hoàn thiện Biệt thự thì ngoài Phí dịch vụ quy định tại Điều 6 của nội quy cư dân, Cư dân có trách nhiệm thanh toán thêm cho Chủ đầu tư hoặc Ban quản lý một khoản phí thi công (“Phí quản lý thi công”) bao gồm “...Phí thi công, an ninh trật tự...; Phí vận chuyển rác thải xây dựng ...; Phí điện, nước thi công ...”. Ngoài ra, việc đặt cọc thi công được quy định tại Điều 6 Quyết định số 15/QĐ-VDI ngày 10/6/2029 của Chủ đầu tư có nội dung: “Trong vòng 07 ngày kể từ ngày kể từ khi nhận được bộ hồ sơ nêu trên trong đó Văn bản kiểm tra hoàn thiện trang trí nội thất ghi nhận các nội dung: nhà thầu không để lại rác tại khu vực công cộng và không làm hư hỏng bất cứ tiện ích, trang thiết bị cố định, vật dụng trang trí nào, thì BQL sẽ tiến hành hoàn trả đầy đủ khoản tiền đặt cọc làm hoàn thiện và trang trí nội thất nêu trên” và “Trường hợp, Văn bản kiểm tra hoàn thiện trang trí nội thất xác định các hư hỏng do quá trình làm hoàn thiện trang trí nội thất gây ra, BQL có quyền yêu cầu nhà thầu bồi thường ... bằng cách khấu trừ trực tiếp vào số tiền cọc...”. Thực hiện quy định trên, Công ty cổ phần V đã thông báo và gia đình bà B do con trai là anh Nguyễn Ngọc H đã chuyển cho Công ty cổ phần V số tiền 50.000.000 đồng.
Theo quy định tại điểm 7.2 và 7.3 Điều 7 Phụ lục 3 kèm theo Hợp đồng mua bán nhà ở và Điều 6 Quyết định số 15/QĐ-VDI ngày 10/6/2029 của Công ty cổ phần V quy định xây dựng hoàn thiện nội thất Khu nhà ở T - P de Ville như trên thì việc đặt cọc thi công là để đảm bảo cho việc bồi thường, khắc phục các thiệt hại cho các khu vực công cộng, hư hỏng các tiện ích ... và các chi phí về phí thi công, phí an ninh trật tự, phí rác thải, phí điện, nước. Ngoài ra, tại Công văn số 223/2024/CV-VDI ngày 22/3/2024 của Công ty cổ phần V gửi gia đình bà B yêu cầu tháo dỡ phần xây dựng vi phạm và hoàn thiện kiến trúc mặt ngoài theo hồ sơ thiết kế, nếu quá thời hạn nguyên đơn không thực hiện thì chủ đầu tư sẽ tạm ngừng cung cấp dịch vụ nước, không có nội dung liên quan đến việc xử lý số tiền đặt cọc. Tại Biên bản nghiệm thu công trình trước khi đưa vào khai thác sử dụng ngày 16/10/2021 có sự xác nhận của đại diện Công ty cổ phần V và gia đình bà B có nội dung: kiểm tra tình trạng đấu nối hạ tầng kỹ thuật trong và ngoài nhà “không vi phạm”.
Trong các điều khoản về đặt cọc thi công trên thì vi phạm của bà B thuộc trường hợp xử lý bằng các hình thứ khác như bồi thường thiệt hại; phạt tiền hoặc báo cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý. Toà án cấp sơ thẩm xác định do bà B vi phạm cơi nới vượt chiều cao nên không buộc Công ty cổ phần V hoàn trả tiền đặt cọc thi công là không phù hợp với thoả thuận của các bên tại Hợp đồng mua bán căn hộ và các phụ lục kèm theo và Quy định về xây dựng hoàn thiện nội thất khu nhà ở T nêu trên nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà về việc buộc Công ty cổ phần V trả lại số tiền cọc.
Đối với việc gia đình bà B vi phạm xây dựng hoàn thiện nhà ở theo nội dung Biên bản nghiệm thu công trình trước khi đưa vào khai thác sử dụng ngày 16/10/2021 có sự xác nhận của đại diện Công ty cổ phần V và gia đình bà B: “Tầng tum chủ nhà có cơi nới tum thang máy lên cao 2,7m, vượt cos hoàn thiện căn nhà được cấp phép là 2,1m (cos hoàn thiện theo Giấy phép xây dựng là +17,0m” và kết luận “ ý kiến của Chủ đầu tư: Đề nghị chủ nhà hoàn nguyên theo bản vẽ Giấy phép xây dựng được UBND quận Đ phê duyệt. Ý kiến của chủ nhà: Đối với các phần cơi nới cải tạo, chủ nhà sẽ tự chịu trách nhiệm đối với các cơ quan chức năng của nhà nước khi có yêu cầu kiểm tra”. Như đã nhận định trên, nội dung thoả thuận đặt cọc không đảm bảo cho việc vi phạm về trật tự xây dựng, việc vi phạm về trật tự xây dựng của gia đình bà B thuộc thẩm quyền xử lý của cơ quan nhà nước có nhiệm vụ quản lý về xây dựng tại địa phương. Ngoài ra, hiện nay gia đình bà B đã được Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Số CY 999484 đối với nhà và đất tại địa chỉ trên.
[2.2] Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả tiền lãi chậm trả đối với số tiền đặt cọc, xét thấy: theo quy định tại Điều 6 Quyết định số 15/QĐ-VDI ngày 10/6/2029 của Công ty cổ phần V quy định xây dựng hoàn thiện nội thất Khu nhà ở T - Porte de V thì việc hoàn lại tiền cọc được thực hiện khi các bên hoàn thiện hồ sơ hoàn cọc nhưng các bên chưa thực hiện nên không có cơ sở để chấp nhận.
[2.3] Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả tiền chi phí thuê luật sư, xét thấy: việc bà B thuê Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình là do bà B tự lựa chọn, kết quả giải quyết vụ án do tòa quyết định trên cơ sở pháp luật, không phụ thuộc vào yếu tố đương sự có hay không có luật sư nên chi phí thuê luật sư không phải là thiệt hại hay chi phí hợp lý, bắt buộc nên không có cơ sở để chấp nhận.
[3] Như đã nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Bản án sơ thẩm xác định nguyên đơn đã vi phạm các cam kết theo thoả thuận đặt cọc và không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc đòi lại số tiền đặt cọc chưa phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Kháng cáo của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một phần và sửa bản án sơ thẩm như đã nhận định trên.
[4] Về án phí: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bà Nguyễn Thị B là người cao tuổi và có đơn đề nghị được miễn án phí nên được miễn nộp án phí theo quy định tại Điều 2 Luật Người cao tuổi và quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 302 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 2 Luật Người cao tuổi; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Thị B. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 209/2024/DS-ST ngày 21/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, cụ thể như sau:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị B đối với Công ty cổ phần V về việc yêu cầu Công ty cổ phần V trả lại số tiền đặt cọc 50.000.000 đồng, buộc Công ty cổ phần V trả lại bà Nguyễn Thị B số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị B về việc buộc Công ty cổ phần V trả số tiền lãi chậm trả là 7.684.931 đồng và số tiền chi phí thuê Luật sư là 30.000.000 đồng.
3. Về án phí: Miễn nộp toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm, dân sự phúc thẩm đối với bà Nguyễn Thị B. Trả lại bà Nguyễn Thị B số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 4.350.000 đồng (bốn triệu, ba trăm năm mươi nghìn đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0019114 ngày 23/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Công ty cổ phần V phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng).
Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Cao Anh Tuấn (Đã ký) |
Bản án số 146/2025/DS-PT ngày 10/03/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về tranh chấp đòi tài sản
- Số bản án: 146/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị B - Công ty cổ phần V
