Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 146/2024/HC-ST

Ngày: 31-7-2024

V/v: “Khiếu kiện quyết định

hành chính trong lĩnh vực

quản lý đất đai”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Minh Trí

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hoàng Huy

Bà Nguyễn Thị Thủy

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Mai - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An: Ông Võ Văn Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử sơ thẩm vụ án hành chính thụ lý số 32/2024/TLST-HC ngày 15 tháng 2 năm 2024 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 176/2024/QĐXXST-HC ngày 28 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

Người khởi kiện:

  1. Trà Đại N, sinh năm 1969. Địa chỉ: D B, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Trà Thị P, sinh năm 1947. Địa chỉ: D B, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Trà Thị Bạch T, sinh năm 1951; Địa chỉ: D B, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
  4. Trà Đại N1, sinh năm 1956; Địa chỉ: 6 Khu phố G, T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
  5. Trà Đại T1, sinh năm 1960; Địa chỉ: A, A Đ, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
  6. Trà Đại H, sinh năm 1966; Địa chỉ: D B, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
  7. Trà Đại H1 (Đã chết)

    Người kế thừa quyền, nghĩa vụ của ông H1:

    1. Trần Thị V, sinh năm 1953. Địa chỉ: Số A, B, Phường A, Quận H, TP Hồ Chí Minh.
    2. Trà Thị Ngọc D, sinh năm 1976. Địa chỉ: Số A, B, Phường A, Quận H, TP Hồ Chí Minh.
    3. Trà Thị Ngọc H2, sinh năm 1980. Địa chỉ: Số A, B, Phường A, Quận H, TP Hồ Chí Minh.
    4. Trà Thị Ngọc T2, sinh năm 1982. Địa chỉ: D C, B, B, TP Hồ Chí Minh.
    5. Trà Thanh H3, sinh năm 1985. Địa chỉ: Số A, B, Phường A, Quận H, TP Hồ Chí Minh.
    6. Trà Thanh L, sinh năm 1988. Cùng Địa chỉ: Số A, B, Phường A, Quận H, TP Hồ Chí Minh.
  8. Trà Đại Q (đã chết);

    Người thừa kế quyền, nghĩa vụ của ông Q:

    1. Bà Huỳnh Thị H4, sinh năm 1966.
    2. Huỳnh Quang T3, sinh năm 1988.
    3. Trà Huỳnh Quang T4, sinh năm 1995.

    Cùng địa chỉ: D B, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.

  9. Trà Đại M (Đã chết);

    Người thừa kế quyền, nghĩa vụ của ông M:

    1. Bà Nguyễn Thị Xuân H5, sinh năm 1969.
    2. Trà Phương Lan N2, sinh năm 1993.
    3. Trà Nguyễn Minh Q1, sinh năm 1995.
    4. Trà Phương Thảo N3, sinh năm 2000.

    Cùng địa chỉ: 7 V, T, T, TP Hồ Chí Minh.

  10. Trà Đại Tài (đã chết)

Người đại diện theo ủy quyền của Trà Thị P, Trà Thị Bạch T, Trà Đại N1, Trà Đại H, Trà Thị Ngọc D, Trà Thị Ngọc T2, Trà Thanh H3, Trà Thanh L1, Huỳnh Quang T3, Trà Huỳnh Quang T4, Trà Phương Lan N2, Trà Nguyễn Minh Q2, Trà Phương Thảo N3, Trần Thị V, Huỳnh Thị H4, Nguyễn Thị Xuân H5, Trà Thị Ngọc H2 là

1. Ông Trà Đại N, sinh năm 1969. Địa chỉ: D B, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Trà Đại T1, sinh năm 1960. Địa chỉ: A, A Đ, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người bị kiện:

  • Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Minh V1 – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Nguyễn Trung K – Phó Trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện.

2

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • Ông Trà Văn N4, sinh năm 1962. Địa chỉ: Ấp G, xã P, huyện C, tỉnh Long An.

(Ông T1 có mặt, ông V1, ông K, ông N4, ông N có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và lời trình bày trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa của người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện có nội dung như sau:

Người khởi kiện Trà Đại N, Trà Đại T1, Trà Thị P, Trà Thị Bạch T, Trà Đại N1, Trà Đại H, Trà Thị Ngọc D, Trà Thị Ngọc T2, Trà Thanh H3, Trà Thanh L1, Huỳnh Quang T3, Trà Huỳnh Quang T4, Trà Phương Lan N2, Trà Nguyễn Minh Q2, Trà Phương Thảo N3, Trần Thị V, Trà Thị Ngọc H2, Huỳnh Thị H4, Nguyễn Thị Xuân H5 yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BH 792899 do Ủy ban nhân dân huyện C tỉnh Long An cấp cho bà Trà Thị Bạch L2 ngày 26/08/2020 đối với thửa đất 1219, tờ bản đồ số 1, diện tích 2485m², tọa lạc tại ấp G, xã P, huyện C, tỉnh Long An.

Lý do khởi kiện: Bà Trà Thị Bạch L2 được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất 1219 ngày 28 tháng 12 năm 2011, số BH 792899, số vào sổ cấp GCN 00787, diện tích 2485m², mục đích sử dụng trồng lúa nước, tọa lạc tại ấp G, xã P, huyện C, tỉnh Long An.

Năm 2016 bà L2 chết (không có chồng, cha mẹ đều mất), gia đình làm thủ tục thừa kế quyền sử dụng đất. Khi làm thủ tục trích lục bản đồ địa chính thửa đất thì Chi nhánh văn phòng Đăng ký đất đai tại huyện C có Văn bản số 933 trả lời là thửa đất trên cũng đã được Sở T6 cấp giấy cho ông Trà Văn N4.

Gia đình liên hệ với Ủy ban nhân dân xã P, qua kiểm tra thực tế và sổ mục kê do Ủy ban nhân dân quản lý phát hiện thửa đất 1219, tờ bản đồ số 1, diện tích 2485m² do bà Trà Thị Bạch L2, địa chỉ D B, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trùng số thửa với ông Trà Văn N4, địa chỉ ấp G, xã P. Hiện tại bà L2 và ông N4 sử dụng đất đúng hiện trạng, đối với bà L2 đang sử dụng thửa đất số 1220 tờ bản đồ số 1, tọa lạc ấp G, xã P và chưa ai đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó ông T1 đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Long An hủy giấy chứng nhận nêu trên.

Tại Văn bản số 6408/UBND-TD ngày 07/5/2024 của người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện C trình bày có nội dung:

Ngày 28/12/2011, Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BH 792899 cho bà Trà Thị Bạch L2, đối với thửa đất số 1219, tờ bản đồ số 01, vị trí đất tọa lạc tại xã P, huyện C, tỉnh Long An là trên cơ sở Văn bản phân chia tài sản thừa kế của ông Trà Văn T5 để lại, được Văn phòng C công chứng ngày 17/12/2011, công chứng số 1415, quyển số 02TP/CC-SCC/TK. Việc người khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Long An hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BH 792899 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Trà Thị Bạch L2 ngày 28/12/2011, đối với thửa đất số 1219, tờ bản đồ số 01, vị trí đất tọa lạc tại xã P, huyện C, tỉnh Long An, Ủy ban nhân dân huyện C đề nghị Tòa án nhân

3

dân tỉnh Long An xét xử theo quy định.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân đã thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.

Về nội dung: Qua xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa cho thấy, ngày 28/12/2011, UBND huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BH 792899 cho bà Trà Thị Bạch L2, đối với thửa đất số 1219, tờ bản đồ số 01, vị trí đất tọa lạc tại xã P, huyện C, tỉnh Long An là trên cơ sở Văn bản phân chia tài sản thừa kế của ông Trà Văn T5 để lại, được Văn phòng C công chứng ngày 17/12/2011, công chứng số 1415, quyển số 02TP/CC-SCC/TK. Hiện trạng, bà Trần Thị Bạch L3 đang đứng tên thửa đất 1219, tờ bản đồ số 01 nhưng thực tế gia đình bà L3 đang sử dụng thửa đất số 1220, tờ bản đồ số 01, gia đình bà L3 đang trồng lúa, trên thửa đất có 02 ngôi mộ, thửa đất giáp đường đất. Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BH 792899 cho bà Trà Thị Bạch L2, đối với thửa đất số 1219 là không đúng vị trí, số thửa đất. Từ những phân tích trên cho thấy yêu cầu của những người khởi kiện là có cơ sở đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu chứng cứ, ý kiến của những người tham gia tố tụng và ý kiến Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

  1. [1] Về đối tượng khởi kiện và thẩm quyền giải quyết vụ án: Người khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BH 792899 do Ủy ban nhân dân huyện C tỉnh Long An cấp cho bà Trà Thị Bạch L2 ngày 26/08/2020 đối với thửa đất 1219, tờ bản đồ số 1, diện tích 2485m², tọa lạc tại ấp G, xã P, huyện C, tỉnh Long An. Đây là khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Long An theo quy định tại khoản 1 Điều 30 và khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính.
  2. [2] Về thời hiệu khởi kiện: Đầu năm 2023 người khởi kiện liên hệ với Ủy ban nhân dân xã P kiểm tra thực tế sổ mục kê do Ủy ban nhân dân xã quản lý phát hiện thửa đất 1219, tờ bản đồ số 1, diện tích 2485m² do bà Trà Thị Bạch L2 được cấp quyền sử dụng trùng với số thửa ông Trà Văn N4 được cấp quyền sử dụng đất. Nên ngày 25/10/2023 người khởi kiện nộp đơn khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân tỉnh Long An là còn trong thời hiệu, nên Tòa án thụ lý giải quyết là đúng quy định tại Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính.
  3. [3] Về việc tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và đối thoại: Tòa án đã có thông báo cho các đương sự nhưng người bị kiện vắng mặt, người khởi kiện có đơn yêu cầu không đối thoại, nên Tòa án lập biên bản về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên

4

bản không tiến hành đối thoại được theo quy định của Điều 135, 137 Luật Tố tụng hành chính.

  1. [4] Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện ông Nguyễn Minh V1, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp ông Nguyễn Trung K, người đại diện cho những người khởi kiện ông N có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 158 Luật Tố tụng hành chính Tòa án nhân dân tỉnh Long An tiến hành xét xử vắng mặt V1, ông K, ông N là phù hợp.
  2. [5] Về hình thức và thẩm quyền ban hành quyết định:

    Ngày 28/12/2011, Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BH 792899 cho bà Trà Thị Bạch L2, đối với thửa đất số 1219, tờ bản đồ số 01, vị trí đất tọa lạc tại xã P, huyện C, tỉnh Long An là trên cơ sở Văn bản phân chia tài sản thừa kế của ông Trà Văn T5 để lại, được Văn phòng C công chứng ngày 17/12/2011, công chứng số 1415, quyển số 02TP/CC-SCC/TK là đúng quy định về hình thức, thẩm quyền, trình tự thủ tục ban hành quyết định theo quy định của Luật Đất đai năm 2003.

    Tuy nhiên, khi thực hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Trà Thị Bạch L2, Ủy ban nhân dân huyện K thực hiện kiểm tra, xác minh nguồn gốc, quá trình, hiện trạng, vị trí, diện tích sử dụng đất là có sai sót.

  3. [6] Về nội dung của quyết định hành chính: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và phần trình bày của các đương sự tại phiên tòa thể hiện bà Trần Thị Bạch L3 đang đứng tên thửa đất 1219, tờ bản đồ số 01 nhưng thực tế gia đình bà L3 đang sử dụng thửa đất số 1220, tờ bản đồ số 01, gia đình bà L3 đang trồng lúa, trên thửa đất có 02 ngôi mộ, thửa đất giáp đường đất. Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BH 792899 cho bà Trà Thị Bạch L2, đối với thửa đất số 1219 là không đúng số thửa đất. Nội dung này được chứng minh qua lời khai của ông N, ông T1, văn bản 598/UBND-KT ngày 15/5/2023 của Ủy ban nhân dân xã P; văn bản 933/CN.VPĐKĐĐ-KTLT ngày 03/5/2023 của Chi nhánh văn phòng Đăng ký đất đai huyện C; biên bản xem xét thẩm định tại chổ của Tòa an nhân dân tỉnh L ngày 26/6/2024.

    Như vậy, Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BH 792899 cho bà Trà Thị Bạch L2 đối với thửa đất số 1219, tờ bản đồ số 1, diện tích 2485m², tọa lạc tại ấp G, xã P, huyện C, tỉnh Long An là không đúng số thửa đất thực tế sử dụng, là trái với quy định tại Điều 10, Điều 49, Điều 50, Điều 105 Luật Đất đai năm 2003. Do đó, yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện là có căn cứ nên được chấp nhận như đề nghị của vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tại phiên tòa.

  4. [7] Về chi phí tố tụng và án phí:

    Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng. Người khởi kiện T, Trà Thị P, Trà Thị Bạch T, Trà Đại N1, Trà Đại T1, Trà Đại H, Trà Thị Ngọc D, Trà Thị Ngọc T2, Trà Thanh H3, Trà Thanh L1, Huỳnh Quang T3, Trà Huỳnh Quang T4, Trà Phương Lan N2, Trà Nguyễn Minh Q2, Trà Phương Thảo N3, Trần Thị V, Huỳnh Thị H4, Trà Thị Ngọc H2, Nguyễn Thị Xuân H5 đã

5

nộp và tự nguyện chịu toàn bộ chi phí này nên ghi nhận là phù hợp theo khoản 1 Điều 357, 358 Luật Tố tụng hành chính.

Về án phí: Ủy ban nhân dân huyện C phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định của Điều 348 Luật Tố tụng hành chính và Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193; Điều 30, Điều 32, Điều 116, Điều 158, Điều 348, Điều 357, Điều 358 Luật Tố tụng hành chính;

Căn cứ Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q3 .

Căn cứ Điều 10, Điều 49, Điều 50, Điều 105 Luật Đất đai năm 2003;

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện Trà Đại N, Trà Thị P, Trà Thị Bạch T, Trà Đại N1, Trà Đại H, Trà Đại T1, Trà Thị Ngọc D, Trà Thị Ngọc T2, Trà Thanh H3, Trà Thanh L1, Huỳnh Quang T3, Trà Huỳnh Quang T4, Trà Phương Lan N2, Trà Nguyễn Minh Q2, Trà Phương Thảo N3, Trà Thị Ngọc H2, Trần Thị V, Huỳnh Thị H4, Nguyễn Thị Xuân H5.

    Hủy

    giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BH 792899 do Ủy ban nhân dân huyện C tỉnh Long An cấp cho bà Trà Thị Bạch L2 ngày 28/12/2011 đối với thửa đất 1219, tờ bản đồ số 1, diện tích 2.485m², tọa lạc tại ấp G, xã P, huyện C, tỉnh Long An.

    Người khởi kiện được quyền đăng ký kê khai để được cấp lại quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

    Buộc Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ, công vụ xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

  2. Về chi phí tố tụng: Ghi nhận sự tự nguyện của người khởi kiện T, Trà Thị P, Trà Thị Bạch T, Trà Đại N1, Trà Đại H, Trà Đại T1, Trà Thị Ngọc D, Trà Thị Ngọc T2, Trà Thanh H3, Trà Thanh L1, Huỳnh Quang T3, Trà Huỳnh Quang T4, Trà Phương Lan N2, Trà Nguyễn Minh Q2, Trà Phương Thảo N3, Trà Thị Ngọc H2, Trần Thị V, Huỳnh Thị H4, Nguyễn Thị Xuân H5 chịu 3.000.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, người khởi kiện đã nộp xong.
  3. Về án phí:

    Hoàn trả cho Trà Đại N, Trà Đại H, Trà Thị Ngọc D, Trà Thị Ngọc H2, Trà Thị Ngọc T2, Trà Thanh H3, Trà Thanh L1, Huỳnh Quang T3, Trà Huỳnh Quang T4, Trà Phương Thảo N3, Trà Nguyễn Minh Q2, Trà Phương Lan N2, Huỳnh Thị H4, Nguyễn Thị Xuân H5 mỗi người số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000161, 0000162, 0000163, 0000164, 0000165, 0000166, 0000167, 0000168, 0000169, 0000172, 0000171, 0000170 ngày 05/02/2024 và 0000220, 0000219 ngày 21/03/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long An.

    Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hành chính sơ thẩm.

6

4. Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - Cục THADS tỉnh Long An;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Minh Trí

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Minh Trí

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 146/2024/HC-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai

  • Số bản án: 146/2024/HC-ST
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trà Đại Nam, Trà Thị Phấn, Trà Thị Bạch Thủy…"Khiếu kiện quyết định hành chính" Ủy ban nhân dân huyện Cần Đước
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger