Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 146/2023/HS-ST

Ngày 15/8/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Xuân Mai

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Vui– Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Tp. Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 tham gia phiên tòa:

Ông Phạm Văn Thanh - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Quận 12

Ngày 15 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đã mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 197/2023/TLST – HS ngày 18 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 197/2023/QĐXXST-HS ngày 18/7/2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 698/2023/HSST-QĐ ngày 31/7/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Sỹ Đ, sinh năm 1983 tại tỉnh Nghệ An. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm B, xã L, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Sỹ T và bà Lê Thị L; tiền án: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 52/2016/HSST ngày 01/3/2016 của Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt Nguyễn Sỹ Đ 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009). Ngày 04/5/2016, chấp hành xong án phí. Ngày 19/7/2020, chấp hành xong hình phạt tù. Tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/4/2023 chuyển sang áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 21/4/2023 đến nay, có mặt.

Những người tham gia tố tụng khác:

Người bị hại: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1996 (vắng mặt)

Địa chỉ: A D, khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Huỳnh Văn P, sinh năm: 1978 (vắng mặt)

Địa chỉ: A N, khu phố B, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 10 giờ 30 phút ngày 16/4/2023, Nguyễn Sỹ Đ chuẩn bị sẵn 01 cây đoãn bằng sắt mài nhọn 01 đầu, dài khoảng 10 cm để phá khóa xe gắn máy rồi Đ gọi xe ôm (không rõ lai lịch) chở ra hướng đường H để Đ tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Khi đi đến trước nhà địa chỉ số A, đường H, khu phố C, phường T, Quận A thì Đ thấy xe mô tô biển số 59Y3-937.22 của anh Nguyễn Văn H dựng trước địa chỉ nêu trên không khóa cổ xe, không có người trông coi nên Đ yêu cầu xe ôm cho xuống rồi đông đi bộ đến xe mô tô biển số 59Y3-937.22 dùng tay phải cầm đoản mang theo bẻ khóa rồi chiếm đoạt xe mô tô nêu trên điều khiển về hướng đường H thì bị hại H và quần chúng nhân dân phát hiện, truy hô đuổi theo bắt quả tang cùng vật chứng.

Tại Kết luận giám định số 135/KL-HĐĐGTS ngày 28/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận A xác định: xe mô tô biển số 59Y3-937.22 có giá trị 14.000.000 đồng (bút lục 12-13).

* Vật chứng và xử lý vật chứng:

  • + 01 USP chứa hình ảnh trích xuất từ camera khu vực xảy ra vụ án; (bút lục 61-62);
  • + 01 xe mô tô biển số 59Y3-937.22, số máy: JA39E2556122, số khung: RLHJA3928NY059183. Qua xác minh do anh Huỳnh Văn P đứng tên chủ sở hữu. Anh P trình bày đã bán xe mô tô trên cho bị hại Nguyễn Văn H nhưng chưa sang tên chủ sở hữu. Công an Q đã trả lại xe mô tô trên cho chủ sở hữu theo quy định (bút lục 60A);
  • + 01 cây sắt đầu nhọn khoảng 10 cm dùng để phá khóa xe máy.
  • + 01 điện thoại di động hiệu Nokia N1280 màu đen, số imel: 353408/04/808955/9.
  • + 01 quần jean màu xanh, 01 áo sơ mi màu trắng.

* Trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Văn H đã nhận lại xe mô tô biển số 59Y3-937.22 nên không yêu cầu bồi thường.

Đối với đối tượng xe ôm (chưa rõ lai lịch) đã chở Nguyễn Sỹ Đ đi tới địa điểm trộm cắp tài sản nhưng không biết và không tham gia trộm cắp tài sản cùng Đ nên không xem xét xử lý.

Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 03/QĐ-VKS ngày 17/7/2023 Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân Quận 12 để xét xử bị cáo Nguyễn Sỹ Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên lời khai và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Sỹ Đ đã nhận phạm tội “Trộm cắp tài sản”, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu thể hiện tại hồ sơ vụ án, hành vi của bị cáo Nguyễn Sỹ Đ có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Sỹ Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị: áp dụng khoản 1 điều 173, điểm s khoản 1 điều 51, điểm h khoản 1 điều 52, điều 38 bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Sỹ Đ mức án từ 12 tháng đến 18 tháng tù.

Về xử lý vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý theo quy định.

Bị cáo Nguyễn Sỹ Đ không có ý kiến gì đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định truy tố của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ phạm tội: Xét thấy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có tại hồ sơ vụ án. Vì vậy, hội đồng xét xử có căn cứ khẳng định:

Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 16/4/2023, để có tiền tiêu xài nên bị cáo Nguyễn Sỹ Đ đã chuẩn bị một cây đoản sắt mục đích bẻ trộm khóa xe máy, bị cáo thuê xe ôm (không rõ lai lịch) đi đến trước nhà địa chỉ A, đường H, khu phố C, phường T, Quận A thì phát hiện có xe mô tô biển số 59Y3-937.22 của anh Nguyễn Văn H dựng trước địa chỉ nên bị cáo đi bộ đến lén lút dùng tay bẻ khóa chiếm đoạt xe máy và điều khiển xe về hướng đường H thì bị hại và quần chúng nhân dân phát hiện bắt quả tang.

Bị cáo Nguyễn Sỹ Đ biết rõ hành vi trộm cắp tài sản của mình là phạm tội nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Sỹ Đ đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là rất liều lĩnh và xem thường pháp luật nhà nước, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến tình an ninh trật tự tại địa phương, tạo ra dư luận xấu trong nhân dân nên bị cáo phải chịu hình phạt trước pháp luật.

Với các tình tiết nêu trên xét thấy cần thiết có một mức hình phạt thật nghiêm khắc mới tương xứng với tính chất, mức độ hành vi và hậu quả do bị cáo đã gây ra. Tuy nhiên khi lượng hình, quyết định hình phạt nhằm mục đích trừng trị nhưng cũng đồng thời mang tính giáo dục, cải tạo bị cáo trở về làm người lương thiện sau này, sống có ích cho gia đình và xã hội.

- Xét về nhân thân bị cáo Nguyễn Sỹ Đ: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 52/2016/HSST ngày 01/3/2016 của Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt Nguyễn Sỹ Đ 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009). Ngày 04/5/2016, chấp hành xong án phí. Ngày 19/7/2020, chấp hành xong hình phạt tù.

Tình tiết tăng nặng: Tái phạm

Tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;

Về vật chứng của vụ án:

  • + Đối với 01 USP chứa hình ảnh trích xuất từ camera khu vực xảy ra vụ án, xét cần lưu hồ sơ vụ án.
  • + 01 xe mô tô biển số 59Y3-937.22, Cơ quan điều tra Công an Q đã xử lý vật chứng trả xe cho chủ sở hữu;
  • + 01 cây sắt đầu nhọn khoảng 10 cm dùng để phá khóa xe máy xét cần tịch thu tiêu hủy;
  • + 01 điện thoại di động hiệu Nokia N1280 màu đen, số imel: 353408/04/808955/9, 01 quần jean màu xanh, 01 áo sơ mi màu trắng là tài sản của bị cáo không liên quan đến vụ án xét cần trả lại cho bị cáo Nguyễn Sỹ Đ.

Về dân sự: Bị hại đã nhận lại xe không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Tuyên bố bị cáo Nguyễn Sỹ Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Sỹ Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 16/4/2023.

Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015;

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Sỹ Đ 01 điện thoại di động hiệu Nokia N1280 màu đen, số imel: 353408/04/808955/9, 01 quần jean màu xanh, 01 áo sơ mi màu trắng.

Tịch thu tiêu hủy 01 cây sắt đầu nhọn khoảng 10 cm.

Lưu hồ sơ vụ án 01 USP chứa hình ảnh trích xuất.

(Các vật chứng nêu trên theo Quyết định chuyển vật chứng số 120/QĐ-VKS ngày 17/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12).

Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Nguyễn Sỹ Đ chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng. Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND Q12;
  • - Chi Cục THADS Q12;
  • - Bị cáo; đương sự;
  • - Lưu: VP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

LÊ THỊ XUÂN MAI

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 146/2023/HS-ST ngày 15/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 146/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger