Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUY PHONG

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 146/2023/HS-ST.

Ngày: 17/11/2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG - TỈNH BÌNH THUẬN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Tấn Sinh

Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Phạm Hồng Sơn

+ Bà Nguyễn Thị Bích Lam

-Thư ký phiên tòa: Ông Đắc Quốc Tuân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tham gia phiên tòa:

Ông Hứa Hải Dương – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 110/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 149/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2023, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Tấn T (tên gọi khác: N), sinh ngày 04/4/1996 tại tỉnh Bình Thuận.

Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn H, xã C, huyện T, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn X, sinh năm 1960 (đã chết) và bà Võ Thị Thu T1, sinh năm 1964; anh chị em ruột: có 02 người, lớn nhất sinh năm 2021, nhỏ nhất sinh năm 2022; vợ, con: chưa có.

Tiền án: Có 01 tiền án. Tại bản án số 09/2021/HS-ST ngày 12.01.2021 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận tuyên phạt Nguyễn Tấn T 1 năm 03 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đến ngày 23.11.2021 thì chấp hành xong hình phạt tù. (chưa được xóa án tích).

Tiền sự: không.

Bị cáo Nguyễn Tấn T bị bắt tạm giữ từ ngày 28.8.2023. Hiện đang tạm giam tại Nhà Tạm giữ của Công an huyện T.

2. Trần Duy T2 (tên gọi khác: B), sinh ngày 15/5/1995 tại tỉnh Bình Thuận.

Nơi thường trú: Thôn H, xã C, huyện T, tỉnh Bình Thuận.

Chỗ ở hiện nay: Thôn H, xã C, huyện T, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Làm biển; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T3, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1973; anh chị em ruột: 02 người, lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 2002; vợ: Phạm Thị H, sinh năm 1994; con: 02 người, lớn nhất sinh năm 2018, nhỏ nhất sinh năm 2020.

Tiền án: 02 tiền án.

- Tại bản án số 58/2021/HS-ST ngày 11.5.2021 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận tuyên phạt Trần Duy T2 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đến ngày 23.11.2021 thì chấp hành xong hình phạt tù. (chưa được xóa án tích).

- Tại bản án số 76/2023/HS-ST ngày 03.8.2023 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận tuyên phạt Trần Duy T2 1 năm 03 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. (chưa chấp hành án).

- Tại Bản án số 101/2023/HS-ST ngày 18.9.2023 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xử phạt Trần Duy T2 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt 01 năm 03 tháng tù tại Bản án số 76/2023/HSST ngày 03.8.2023 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong buộc chấp hành chung hình phạt cho cả 02 Bản án là 02 năm 09 tháng tù. (Án đã có hiệu lực pháp luật).

Tiền sự: không.

Bị cáo Trần Duy T2 bị bắt tạm giữ từ ngày 25.8.2023. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam của Công an tỉnh B.

Bị cáo Nguyễn Tấn T, Trần Duy T2 có mặt tại phiên toà.

+ Người bị hại: Bà Đỗ Thị Thu S, sinh năm 1994; nơi thường trú: khu phố T, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Chỗ ở: khu phố M, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Có mặt

+ Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Võ Thị Thu T1, sinh năm 1964; nơi thường trú và chỗ ở: Thôn H, xã C, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Có mặt

+ Người làm chứng:

  • - Ông Võ Minh T4, sinh năm 1997; nơi thường trú và chỗ ở: khu phố M, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt
  • - Ông Võ Chí T5, sinh năm 1993; nơi thường trú và chỗ ở: xóm B, xã H, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt
  • - Ông Lê Văn X1, sinh năm 1974; nơi thường trú và chỗ ở: Thôn L 02, xã H, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Duy T2 (B) sinh năm 1995, ĐKTT: H, C ở: H, xã C, huyện T và Nguyễn Tấn T (N) sinh năm 1996 cư trú tại thôn H, xã C, huyện T là người nghiện ma túy. Sau khi T2 và T sử dụng ma túy tại khu vực nhà hoang bờ kè biển thuộc khu phố M, thị trấn P, huyện T xong thì T2 điều khiển xe mô tô chở Tin ngồi phía sau đi về. Đến khoảng 11 giờ ngày 24.8.2023, trên đường T điều khiển xe hiệu Wave biển số 60R2-5695 chở Tin ngồi phía sau đi đến khu vực đường bê tông thuộc khu phố M, thị trấn P thì Tin nhìn thấy Đỗ Thị Thu S sinh năm 1994 đang nằm trước nhà Lê Thị Thủy s năm 1974 thuộc khu phố M, thị trấn P, huyện T. S nằm trên chiếu, có mái che mở điện thoại để trước mặt xem điện thoại. Tin nhìn thấy S đang xem điện thoại thì nói với T2: “điện thoại kìa bạn à, xuống lấy điện thoại cho rồi?” thì T2 đồng ý và nói Tin: “Lấy được thì lấy đi”. Lúc này, T2 điều khiển xe mô tô dừng lại trước vị trí S nằm khoảng 06m, Tin đi xuống xe, đi bộ tiến lại vị trí S đang nằm dùng tay giật chiếc điện thoại hiệu Oppo A57, màu xanh dương của S mua vào tháng 6/2023 với giá 4.390.000 đồng đang để trước mặt. Theo phản xạ S dùng tay chụp lại điện thoại và truy hô “Cướp, cướp” nên Tin không lấy được chiếc điện thoại mà rơi tại vị trí S nằm. Tin bỏ chạy đến vị trí của T2 đang nổ máy chờ sẵn. Võ Minh T4 sinh năm 1997 và Võ Chí T5 sinh năm 1993 đang ở nhà cách vị trí S nằm khoảng 40m nghe tiếng Sương truy hô cướp nên chạy ra xem thì nhìn thấy T2 và T đang điều khiển xe bỏ chạy nên T4 và T5 rượt đuổi theo, Lê Văn X1 sinh năm 1974 đang ngồi uống cà phê gần nơi S bị cướp giật nghe truy hô nên cùng đuổi theo. T2 chở T bỏ chạy đi theo hướng khu vực 15Ha thị trấn P sau đó đến trụ tín hiệu giao thông đèn xanh đèn đỏ thì rẽ phải đi đến xã C. T4 điều khiển xe truy đuổi theo T2 và Tin. Khi đến thôn H, xã C thì T4 và X1 truy đuổi kịp T2 và T, trong lúc đi ngang qua trụ sở Công an xã C thì Xá truy hô cướp nên lực lượng công an xã C hỗ trợ truy bắt T2 và Tin. Tin ngồi phía sau nhảy xuống xe chạy trốn thoát, Công an xã C đưa T2 cùng xe mô tô về trụ sở để làm việc. Đến ngày 28.8.2023, T đến Công an huyện T để làm việc và đã thừa nhận hành vi phạm tội.

Tại biên bản và bản kết luận định giá tài sản số 88/KL-HĐĐG ngày 29.8.2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận:

+01 điện thoại di động hiệu Oppo A57, màu xanh, loại màn hình cảm ứng, có thông số kỹ thuật cơ bản như sau: Màn hình IPS LCD 6.56 HD+, Ram 4GB; dung lượng 128 GB, 01 camera trước, 02 camera sau, điện thoại có dán cường lực...tài sản đã qua sử dụng, điện thoại còn tương đối mới, máy vẫn còn hoạt động bình thường, giá trị thực tế còn lại 90%.

4.190.000 đồng/chiếc x 90% = 3.771.000 đồng.

Tổng giá trị định giá tài sản định giá: 3.771.000 đồng.

Về tang vật chứng: Sau khi định giá tài sản, cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng số 43 ngày 07.9.2023 trao trả 01 điện thoại di động hiệu Oppo A57 128G màu xanh cho bị hại Đỗ Thị Thu S.

Riêng 01 xe mô tô hiệu Wave biển kiểm soát 60R2-5695 do Trần Văn L sinh năm 1969 đứng tên chủ sở hữu, sau đó bán lại qua nhiều chủ sở hữu không đăng ký sang tên. Võ Thị Thu T1 sinh năm 1964 là mẹ của Nguyễn Tấn T mua lại xe mô tô để sử dụng đi lại, không biết T sử dụng để cướp giật tài sản nên cơ quan cảnh sát điều tra đã trao trả lại cho T1.

Về trách nhiệm dân sự: Đỗ Thị Thu S đã nhận lại 01 chiếc điện thoại di và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét, giải quyết.

Tại Bản Cáo trạng số 126/CT-VKS-TP, ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong đã truy tố Nguyễn Tấn T về tội “Cướp giật tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) và truy tố Trần Duy T2 về tội “Cướp giật tài sản”, theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
  • + Áp dụng: khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 15; Điều 17; khoản 3 Điều 57; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn T từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt, ngày 28/8/2023.
  • + Áp dụng: điểm i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 15; Điều 17, khoản 3 Điều 57, Điều 56; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Trần Duy T2 từ 03 năm đến 03 năm 06 tù về tội “Cướp giật tài sản”. Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015, tổng hợp hình phạt 02 năm 09 tháng tù tại Bản án số 101/2023/HSST ngày 18/9/2023 đối với bị cáo Trần Duy T2, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù từ 05 năm 09 tháng tù đến 06 năm 03 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt, ngày 25/8/2023.
  • Về tang vật chứng: Sau khi định giá tài sản, cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng số 43 ngày 07.9.2023 trao trả 01 điện thoại di động hiệu Oppo A57 128G màu xanh cho bị hại Đỗ Thị Thu S.
  • Riêng 01 xe mô tô hiệu Wave biển kiểm soát 60R2-5695 do Trần Văn L sinh năm 1969 đứng tên chủ sở hữu, sau đó bán lại qua nhiều chủ sở hữu không đăng ký sang tên. Võ Thị Thu T1 sinh năm 1964 là mẹ của Nguyễn Tấn T mua lại xe mô tô để sử dụng đi lại, không biết T sử dụng để cướp giật tài sản nên cơ quan cảnh sát điều tra đã trao trả lại cho T1.
  • Về trách nhiệm dân sự: Đỗ Thị Thu S đã nhận lại 01 chiếc điện thoại di và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét, giải quyết.
  • - Các bị cáo Nguyễn Tấn T và Trần Duy T2 thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong đã truy tố. Các bị cáo cho rằng việc truy tố các bị cáo là đúng, không oan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Tấn T, Trần Duy T2 không có ý kiến, cũng như không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện, đều hợp pháp.

[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã làm rõ: Vào khoảng 11 giờ ngày 24.8.2023, tại đường bê tông thuộc khu phố M, thị trấn P huyện T, do các bị cáo Trần Duy T2 và Nguyễn Tấn T đã cùng nhau thống nhất thực hiện. Bị cáo T2 điều khiển xe mô tô 60R2-5695 đứng chờ sau đó bị cáo Tin dùng tay giật 01 chiếc điện thoại di động hiệu Oppo A57, 128G màu xanh của người bị hại Đỗ Thị Thu S, có giá trị định giá tài sản là 3.771.000 đồng nhưng do điện thoại bị rớt lại chưa lấy được sau đó T2 và T bỏ chạy thì bị phát hiện, thu giữ. Tại biên bản và bản kết luận định giá tài sản số 88/KL-HĐĐG ngày 29.8.2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Oppo A57, màu xanh, loại màn hình cảm ứng, có thông số kỹ thuật cơ bản như sau: Màn hình IPS LCD 6.56 HD+, Ram 4GB; dung lượng 128 GB, 01 camera trước, 02 camera sau, điện thoại có dán cường lực...tài sản đã qua sử dụng, điện thoại còn tương đối mới, máy vẫn còn hoạt động bình thường, giá trị thực tế còn lại 90%.

4.190.000 đồng/chiếc x 90% = 3.771.000 đồng.

Tổng giá trị định giá tài sản định giá: 3.771.000 đồng.

Bị cáo Trần Duy T2 có 02 tiền án chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Hành vi của bị cáo T2 đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản”. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm i khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Nguyễn Tấn T phạm tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và bị cáo Trần Duy T2 phạm tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

[3] Các bị cáo Nguyễn Tấn T và Trần Duy T2 là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, giữa nơi công cộng đông người qua lại các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội bất chấp hậu quả xảy ra và bất chấp cả sự trừng trị của pháp luật. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật và Nhà nước bảo hộ, gây mất trật tự trị an xã hội và tác động xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Chỉ vì muốn có tiền để tiêu xài cho bản thân các bị cáo đã thực hiện hành vi cướp giật tài sản của người khác rất táo bạo và liều lĩnh. Vì vậy, cần thiết phải có mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện. Cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm giúp các bị cáo sau này biết tôn trọng pháp luật và tôn trọng tài sản của người khác, tạo điều kiện cho các bị cáo học tập, cải tạo lại mình trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời cũng nhằm có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Vụ án có đồng phạm nhưng thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, trong đó T đã rũ rê T2 cùng nhau thống nhất thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu trách nhiệm hình sự chung về hậu quả gây ra.

[5] Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Nguyễn Tấn T có 01 tiền án chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội, thuộc trường hợp tái phạm, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo Trần Duy T2 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại Cơ quan điều tra và qua diễn biến phiên tòa hôm nay, các bị cáo Nguyễn Tấn T và bị cáo Trần Duy T2 đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Bị cáo Nguyễn Tấn T có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” chưa được xoá án tích; bị cáo Trần Duy T2 có 02 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; các bị cáo đều là người nghiện ma túy nên Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc khi lượng hình đối với các bị cáo.

Bị cáo Nguyễn Tấn T và Trần Duy T2 phạm tội thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt nên áp dụng Điều 15 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi; bổ sung năm 2017) để xem xét, xử lý đối với các bị cáo T và T2.

Do Bản án số 101/2023/HS-ST ngày 18.9.2023 của Toà án nhân dân huyện Tuy Phong đã có hiệu lực pháp luật nên áp dụng điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo Trần Duy T2.

[6] Về tang, vật chứng của vụ án: Sau khi định giá tài sản, cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng số 43 ngày 07.9.2023 trao trả 01 điện thoại di động hiệu Oppo A57 128G màu xanh cho bị hại Đỗ Thị Thu S.

Riêng 01 xe mô tô hiệu Wave biển kiểm soát 60R2-5695 do Trần Văn L sinh năm 1969 đứng tên chủ sở hữu, sau đó bán lại qua nhiều chủ sở hữu không đăng ký sang tên. Võ Thị Thu T1 sinh năm 1964 là mẹ của Nguyễn Tấn T mua lại xe mô tô để sử dụng đi lại, không biết T sử dụng để cướp giật tài sản nên cơ quan cảnh sát điều tra đã trao trả lại cho T1 là đúng quy định của pháp luật.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Đỗ Thị Thu S đã nhận lại 01 chiếc điện thoại di và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét, giải quyết.

[8] Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và xử lý vật chứng là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Các bị cáo Nguyễn Tấn T, Trần Duy T2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điều 268, Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Tấn T, Trần Duy T2 cùng phạm tội: “Cướp giật tài sản”.

Áp dụng: khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 15; Điều 17; khoản 3 Điều 57; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tấn T 01 (Một) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 28.8.2023.

Áp dụng: điểm i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 15; Điều 17, khoản 3 Điều 57; Điều 56; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Xử phạt: Bị cáo Trần Duy T2 03 (Ba) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Tổng hợp hình phạt 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù tại Bản án số 101/2023/HSST, ngày 18/9/2023, buộc chấp hành hình phạt chung 05 (Năm) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 25.8.2023.

Áp dụng: Khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án.

Buộc các bị cáo Nguyễn Tấn T, Trần Duy T2, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (17/11/2023).

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Tuy Phong;
  • - CA huyện Tuy Phong;
  • - THADS huyện Tuy Phong;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Thuận;
  • - Các bị cáo; bị hại;
  • - Người có QL&NVLQ;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Võ Tấn Sinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 146/2023/HS-ST ngày 17/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự - cướp giật tài sản

  • Số bản án: 146/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tấn T và Trần Duy Th phạm tội cướp giật tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger