Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

Bản án số: 146/2021/DS-PT

Ngày: 10-6-2021

V/v: “Tranh chấp yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất làm lối đi, yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm, hủy quyết định cá biệt”.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Tự

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Tiến

Ông Trần Quốc Cường

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Trang, Thư ký Toà án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Trần Viết Tuấn, Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 129/2021/TLPT-DS ngày 28 tháng 01 năm 2021 về việc: “Tranh chấp yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất làm lối đi, yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm, hủy quyết định cá biệt”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2020/DS-ST ngày 19/11/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam bị kháng cáo, kháng nghị.

Giữa các đương sự:

* Nguyên đơn:

  1. Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1972;
  2. Bà Lê Thị T, sinh năm 1977;

Cùng địa chỉ: thôn A, xã B, huyện H, tỉnh Quảng Nam.

  1. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1983;
  2. Bà Võ Thị Thanh Kim H, sinh năm 1984;

Cùng địa chỉ: thôn A, xã B, huyện H, tỉnh Quảng Nam.

  1. Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1973, (mất ngày 20/4/2021).

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng: Bà Nguyễn Thị T (vợ ông H1).

  1. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1975;

Địa chỉ: thôn A, xã B, huyện H, tỉnh Quảng Nam.

* Bị đơn: Ông Nguyễn C, sinh năm 1953;

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Văn T1;

Địa chỉ: thôn A, xã B, huyện H, tỉnh Quảng Nam.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Quảng Nam.
  2. Bà Bùi Thị Trầm, sinh năm 1959
  3. Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1988
  4. Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1991
  5. Chị Nguyễn Thị N1, sinh năm 1995

Cùng địa chỉ: thôn A, xã B, huyện H, tỉnh Quảng Nam.

  1. Cụ Nguyễn Thị C
  2. Bà Lê Thị N2
  3. Ông Lê Văn M

Cùng địa chỉ: thôn A, xã B, huyện H, tỉnh Quảng Nam.

Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ, bà Lê Thị T, bà Nguyễn Thị T; bị đơn ông Nguyễn C.

Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án các nguyên đơn trình bày:

Các nguyên đơn là một trong nhiều các hộ dân sử dụng lối đi lên núi G thuộc thôn A, xã B, huyện H để khai thác lâm sản, sử dụng đất rừng trên núi G. Năm 2007, do nhu cầu mở rộng đường để vận chuyển lâm sản từ núi G xuống, các nguyên đơn và một số hộ dân góp tiền, thuê xe mở rộng đường lên núi G, con đường này đi qua đất một số hộ dân, trong đó có 48m2 đất của gia đình bị đơn được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2014, bị đơn không đồng ý cho tiếp tục sử dụng đường đi qua diện tích đất đã đổi nên các hộ dân mở con đường đi khác và trả lại 48 m2 đất đã đổi năm 2007 cho bị đơn, như vậy con đường đi lên núi G không còn liên quan đến đất của bị đơn. Nhưng năm 2019, khi các hộ dân thuê xe mở đường lên để vận chuyển lâm sản thì ông Nguyễn C cản trở, không cho xe đi qua đoạn đường thuộc con đường giao thông cũ, diện tích đất tranh chấp thuộc phạm vi ông C cản trở là 31,4m2. Do địa bàn rừng núi phức tạp nên sau khi ông C rào đường lại thì các hộ dân có đất ở trên núi không vận chuyển được mía và keo sau khi thu hoạch, dẫn đến gây thiệt hại cho các hộ dân.

Do vậy các nguyên đơn yêu cầu bị đơn chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất tranh chấp thuộc đường giao thông mà nhân dân sử dụng đi lên núi G, trong đó có các nguyên đơn, và yêu cầu công nhận quyền sử dụng của các nguyên đơn đối với diện tích đất tranh chấp, phạm vi quyền sử dụng đất mà các nguyên đơn yêu cầu bị đơn chấm dứt hành vi cản trở là 31,4m2 nằm trong diện tích 10.411m2 đất mà cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Văn M năm 2009, thuộc khoảnh IV, tiểu khu 505, tại thôn A, xã B, huyện H, tỉnh Quảng Nam. Ngoài ra, các nguyên đơn yêu cầu bị đơn bồi thường thiệt hại do có hành vi ngăn cản các nguyên đơn vận chuyển lâm sản từ núi G xuống đường bê tông, gây thiệt hại về lâm sản cho các nguyên đơn. Cụ thể:

  • Vợ chồng ông Nguyễn Văn Đ, bà Lê Thị T yêu cầu ông Nguyễn C bồi thường thiệt hại 34.000.000 đồng do mía đến tuổi khai thác nhưng không khai thác được, để hư hỏng toàn bộ.
  • Vợ chồng ông Nguyễn Văn H, bà Võ Thị Thanh Kim H yêu cầu ông Nguyễn C bồi thường thiệt hại 5.000.000 đồng do 5 tấn keo không vận chuyển ra được dẫn đến hư hỏng toàn bộ.
  • Vợ chồng ông Nguyễn Văn H1, bà Nguyễn Thị T yêu cầu ông Nguyễn C bồi thường thiệt hại 8 tấn keo bị hư hỏng hoàn toàn do không vận chuyển được là 8.000.000 đồng.

- Bị đơn trình bày:

Diện tích đất tranh chấp có nguồn gốc của gia đình bị đơn sử dụng từ năm 1975 đến nay. Năm 2007, ông Lê Văn T2 là người trực tiếp đến nhà bị đơn để thỏa thuận đổi đất làm đường lên núi G. Đến năm 2016, ông T2 không sử dụng con đường này nữa nên đã giao lại diện tích đất đã đổi năm 2007 thuộc con đường lên núi G cho gia đình bị đơn sử dụng. Bị đơn xác định diện tích đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của hộ gia đình bị đơn, không thừa nhận diện tích đất tranh chấp thuộc con đường công cộng. Do vậy, phía bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam. Căn cứ Điều 289 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam.

[2] Xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn Đ, bà Lê Thị T, bà Nguyễn Thị T và kháng cáo của ông Nguyễn C:

Diện tích đất tranh chấp 31,4m2 là một đoạn của con đường lên núi G, nằm trong 10.411m2 đất mà cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 881469 ngày 09/11/2009 cho ông Lê Văn M. Hộ gia đình ông Nguyễn C là người sử dụng diện tích đất tranh chấp từ năm 1980 đến năm 2007 nhưng không kê khai, đăng ký đất đai, chưa được nhà nước công nhận. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Lê Văn M không phản đối việc sử dụng diện tích đất này làm con đường để nhân dân sử dụng đi lên núi G.

[3] Từ năm 2007, bị đơn ông Nguyễn C và nguyên đơn, cùng những hộ dân khác có đất trên núi G thỏa thuận mở con đường để vận chuyển lâm sản từ trên núi G xuống đường chính. Năm 2019, do mâu thuẫn cá nhân với ông Đ nên ông C ngăn cản không cho các hộ dân sử dụng con đường để chở lâm sản ở núi G và xảy ra tranh chấp. Đoạn đường đi qua diện tích đất tranh chấp là duy nhất không có con đường nào khác.

[4] Như vậy, có cơ sở xác định: Con đường được mở từ năm 2007 đi qua diện tích đất tranh chấp 31,4m2 lên núi G, được cộng đồng dân cư tại địa phương, trong đó có bị đơn cùng sử dụng hơn 10 năm, là không trái pháp luật, thuận tiện cho hoạt động sản xuất của các hộ dân tại địa phương.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 289, khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

  1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ, bà Lê Thị T và bà Nguyễn Thị T.
  2. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn C.
  3. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam.
  4. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2020/DS-ST ngày 19/11/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.
  5. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn Đ và bà Lê Thị T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000đ; Bà Nguyễn Thị T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000đ. Ông Nguyễn C được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - TAND tỉnh Quảng Nam;
  • - Cục THADS tỉnh Quảng Nam;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HSVA, PHCTP, LT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Lê Tự

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 146/2021/DS-PT ngày 10/06/2021 của Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng về tranh chấp yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất làm lối đi, yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm, hủy quyết định cá biệt

  • Số bản án: 146/2021/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất làm lối đi, yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm, hủy quyết định cá biệt
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2021
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ, bà Lê Thị T và bà Nguyễn Thị T.2. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn C. 3. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam. 4. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2020/DS-ST ngày 19/11/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger