TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:1452/2024/QĐST-DS
Ngày: 26-7-2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Nguyệt
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Nhơn
2. Bà Hồ Thị Lang
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thanh Trân - Thư ký Toà án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thị Minh Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 16/7/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án dân sự thụ lý số 735/2024/TLST-DS ngày 10/4/2024, về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 366/2024/QĐXXST-DS ngày 14/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 287/2024/QĐST-DS ngày 03/7/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TNHH MTV Standard Chartered Việt Nam
Trụ sở: Tầng C T+2, Phòng CP1.L01 và Phòng CP2.L01, Tòa nhà C số B đường L, phường N, quận B, Thành phố Hà Nội.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T (Giấy ủy quyền số 92/LC-SCBVL.24 ngày 24/01/2024)(có mặt).
Bị đơn: Ông Trương Văn D, sinh năm 1973 (vắng mặt)
Địa chỉ: 2 P, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 24/01/2024, bản tự khai và các biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ký kết hợp đồng:
Ngày 01/7/2020, nguyên đơn và bị đơn có ký Hợp đồng tín dụng vay tiêu dùng cá nhân số 1540335 (bao gồm Đơn xác lập quan hệ khách hàng và Bản các điều khoản và điều kiện khoản vay tiêu dùng cá nhân). Nội dung của hợp đồng, Nguyên đơn đồng ý cho bị đơn vay số tiền 365.000.000đồng; mục đích vay tiêu dùng; thời hạn vay là 60 tháng; lãi suất trong hạn là 16%/năm; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; hình thức cho vay tín chấp không có tài sản đảm bảo.
Thực hiện hợp đồng:
Ngày 17/7/2020, Ngân hàng đã giải ngân cho ông D vay số tiền 365.000.000đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, ông D đã thanh toán cho ngân hàng số tiền tổng cộng 275.192.092đồng, trong đó bao gồm 156.981.959đồng tiền nợ gốc, 118.176.862đồng tiền lãi trong hạn và 33.271 đồng tiền lãi quá hạn. Từ ngày 27/3/2023 đến nay, ông D ngưng không thanh toán bất kỳ khoản tiền nào khác cho Ngân hàng, Ngân hàng đã gửi thông báo nợ quá hạn và nhiều lần nhắc nhở, tạo điều kiện cho ông D trả nợ nhưng ông D vẫn không có thiện chí hợp tác trả nợ cho Ngân hàng.
Tính đến ngày 10/7/2023, ông D còn nợ Ngân hàng số tiền tổng cộng 225.223.620đồng, trong đó bao gồm tiền nợ gốc 208.014.132đồng, tiền lãi 15.989.881đồng, tiền lãi phạt và phí1.219.607đồng.
Bị đơn – ông Trương Văn D:
Sau khi thụ lý hồ sơ, Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục xác minh, thu thập chứng cứ và tiến hành các thủ tục tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, nhưng ông D vẫn không có mặt tham gia tố tụng, cũng không có ý kiến gì phản hồi về nội dung thông báo thụ lý vụ án của Tòa án.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 23/5/2024 cho ông D, do ông D vắng mặt không lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên toà:
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết buộc phía bị đơn – ông Trương Văn D thanh toán số tiền nợ phát sinh từ Hợp đồng tín dụng vay tiêu dùng cá nhân số 1540335 ngày 01/7/2020 cho Ngân hàng số tiền tổng cộng 225.223.620đồng (Hai trăm hai mươi lăm triệu hai trăm hai mươi ba nghìn sáu trăm hai mươi đồng), trong đó bao gồm 208.014.132đồng tiền nợ gốc + 15.989.881đồng tiền lãi + 1.219.607đồng tiền lãi phạt và phí. Các khoản tiền lãi, phí tính đến ngày 10/7/2023.
Bị đơn còn phải tiếp tục trả tiền lãi, phí phát sinh tính từ ngày 27/7/2024 trên số tiền nợ gốc cho đến khi thanh toán dứt nợ, theo mức lãi suất quá hạn được quy định trong Đơn xác lập quan hệ khách hàng và Bản các điều khoản và điều kiện khoản vay tiêu dùng cá nhân ngày 01/7/2020 mà hai bên đã ký kết. Ngân hàng không yêu cầu bị đơn phải thanh toán số tiền lãi và phí phát sinh từ ngày 11/7/2023 đến ngày 26/7/2024.
Thời hạn thanh toán và phương thức thanh toán: Thanh toán dứt điểm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn tiếp tục vắng mặt không có lý do.
Phần tranh luận: Người đại diện hợp pháp của Ngân hàng không có ý kiến phát biểu tranh luận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử:
Thẩm phán xác định đúng quan hệ tranh chấp, đúng thẩm quyền giải quyết, xác định vụ án thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, việc gửi, cấp tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự và Viện kiểm sát đúng quy định từ Điều 170 đến Điều 181 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Tòa án đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo đúng quy định tại các Điều 209, 210 và 211 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Tại phiên tòa, thành phần Hội đồng xét xử gồm những thành viên như đã công bố trong quyết định đưa vụ án ra xét xử. Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Thư ký Tòa án tuân thủ đúng quy định của Điều 51 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:
Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn thanh toán số tiền nợ gốc: 208.014.132 đồng:
Căn cứ Đơn xác lập quan hệ khách hàng ngày 01/7/2020 có chữ ký của ông Trương Văn D, căn cứ Trích lục hợp đồng vay ngày 17/7/2020 của Ngân hàng Standard Chartered Việt Nam thì có cơ sở xác định giữa ông D và Ngân hàng Standard Chartered Việt Nam có hợp đồng vay số tiền 365.000.000 đồng, lãi suất 16%/năm, kỳ hạn 60 tháng, số tiền thanh toán đều theo tháng là 8.876.091 đồng. Ngày 17/7/2020, Ngân hàng đã giải ngân số tiền 365.000.000 đồng cho ông D vay.
Căn cứ bảng Lịch sử thanh toán khách hàng Trương Văn D và Bảng tính lãi chi tiết thì từ ngày 17/7/2020 đến 10/7/2023 ông D đã thanh toán được số tiền 275.192.092 đồng trong đó nợ gốc 156.981.959 đồng, nợ lãi trong hạn 118.176.862 đồng và tiền lãi quá hạn 33.271 đồng. Từ đó đến nay ông D không tiếp tục thanh toán cho ngân hàng.
Như vậy, số tiền gốc còn lại của ông D đến ngày 10/7/2023 là: 365.000.000 đồng – 156.981.959 đồng = 208.014.132 đồng.
Do ông Trương Văn D vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên căn cứ Khoản 1 Điều 466 BLDS 2015, yêu cầu của nguyên đơn buộc ông D phải trả số tiền nợ gốc 208.014.132 đồng là có căn cứ chấp nhận.
Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn thanh toán khoản lãi tạm tính đến ngày 10/7/2023 và lãi phát sinh cho đến khi thanh toán hết nợ:
Nguyên đơn tự nguyện chỉ yêu cầu tính lãi đến ngày 10/7/2023, không yêu cầu tính lãi từ ngày 11/7/2023 đến ngày xét xử.
Ngân hàng tính lãi trên nợ gốc quá hạn của các kỳ tháng 12/2022 đến tháng 6/2023 với mức lãi suất 24% (150% lãi suất trong hạn) số tiền 1.219.607 đồng là phù hợp quy định tại Hợp đồng vay và bản Các Điều khoản và Điều kiện khoản vay tiêu dùng cá nhân mà ông Trương Văn D đã ký với Ngân hàng.
Căn cứ theo Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng về lãi suất, phí trong hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng, Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP của HĐTP Tòa án nhân dân tối cao thì việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán khoản lãi tạm tính đến ngày 10/7/2023 gồm lãi trong hạn 15.989.881 đồng, lãi quá hạn 1.219.607 đồng và lãi phát sinh cho đến khi thanh toán hết nợ là có cơ sở chấp nhận.
Bởi các lẽ trên, đề nghị HĐXX:
Căn cứ Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự 2015 và Điều 91, Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng 2010: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng TNHH MTV Standard Chartered Việt Nam, buộc bị đơn Trương Văn D thanh toán cho Ngân hàng TNHH MTV Standard Chartered Việt Nam số tiền tính đến ngày 10/7/2023 là là 225.223.620 đồng. Trong đó bao gồm, nợ gốc: 208.014.132 đồng, lãi trong hạn: 15.989.881 đồng, lãi quá hạn: 1.219.607 đồng. Thanh toán một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
Bị đơn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh kể từ ngày ngày tiếp theo của ngày xét xử cho đến khi thanh toán hết nợ theo mức lãi suất đã thỏa thuận.
Ghi nhận sự tự nguyện của phía Nguyên đơn về việc không yêu cầu bị đơn phải thanh toán tiền lãi + lãi phạt và phí trên số tiền nợ gốc kể từ ngày 11/7/2023 cho đến ngày 26/7/2023 cho nguyên đơn.
Về án phí, do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; nghe ý kiến của đương sự; nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Quan hệ tranh chấp giữa Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Standard Chartered Việt Nam và ông Trương Văn D là tranh chấp Hợp đồng tín dụng. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản của Bộ luật Tố tụng Dân sự đây là loại vụ việc tranh chấp về hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Bị đơn – ông Trương Văn D đã khai địa chỉ cư trú vào thời điểm ký hợp đồng với nguyên đơn tại số B P, Phường A, quận B. Theo kết quả cung cấp chứng cứ của Công an P, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh phúc đáp Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ số 1155/2024/QĐ-CCTLCC ngày 26/02/2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh đã xác minh “Đương sự Trương Văn D, sinh năm 1973 có hộ khẩu thường trú tại 2 P, Phường A, quận B. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh.
[2]. Về thủ tục tố tụng:
Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ bị đơn tham gia phiên tòa sơ thẩm xét xử lần 1 vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 03/7/2024 và lần 2 lúc 08 giờ 00 phút ngày 26/7/2024 nhưng bị đơn vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành phiên tòa theo quy định.
[3]. Về yêu cầu của nguyên đơn :
Nguyên đơn yêu cầu ông Trương Văn D thanh toán số tiền nợ gốc là 208.014.132đồng, Hội đồng xét xử nhận định:
Căn cứ Hợp đồng tín dụng vay tiêu dùng cá nhân số 1540335 ngày 01/7/2020 (bao gồm Đơn xác lập quan hệ khách hàng và Bản các điều khoản và điều kiện khoản vay tiêu dùng cá nhân); Sao kê tài khoản ngày 31/7/2020; Bảng tính lãi chi tiết ngày 10/7/2023; Lịch sử thanh toán ngày 07/3/2024 cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định nguyên đơn đã cho bị đơn vay tín chấp số tiền 365.000.000 đồng. Sau khi được giải ngân số tiền vay trên, bị đơn đã thanh toán cho nguyên đơn số tiền tổng cộng là 275.192.092đồng, trong đó bao gồm 156.981.959đồng tiền nợ gốc, 118.176.862đồng tiền lãi trong hạn và 33.271 đồng tiền lãi quá hạn. Từ ngày 27/3/2023 đến nay, bị đơn ngưng không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ mặc dù nguyên đơn đã nhiều lần nhắc nhở, tạo điều kiện cho bị đơn trả nợ nhưng phía bị đơn vẫn không có thiện chí trả nợ. Ngày 11/7/2023, Ngân hàng đã gửi thông báo chuyển toàn bộ dư nợ gốc còn lại của bị đơn sang nợ quá hạn và thu hồi nợ trước hạn theo đúng nội dung mà hai bên thống nhất thỏa thuận trong Đơn xác lập quan hệ khách hàng ngày 01/7/2020 và Điều 9 của Bản các điều khoản và điều kiện vay tiêu dùng cá nhân của Ngân hàng. Việc vi phạm của bị đơn trong một thời gian dài đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn. Do vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền nợ gốc và tiền lãi phát sinh từ hợp đồng tín dụng vay tiêu dùng cá nhân số 1540335 ngày 01/7/2020 là hoàn toàn phù hợp với quy định tại các Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên có cơ sở chấp nhận.
- Nguyên đơn yêu cầu ông Trương Văn D thanh toán tiền lãi 15.989.881đồng và tiền lãi phạt, phí 1.219.607 đồng tính đến ngày 10/7/2023, Hội đồng xét xử nhận định:
Trong hợp đồng tín dụng các bên đã thống nhất với nhau về thời hạn thanh toán, mức tính lãi suất và phí, nên việc ông D không thanh toán tiền nợ gốc, nợ lãi theo đúng thời hạn đã thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Xem xét về thời gian, mức tính lãi suất và phí mà Ngân hàng đã áp dụng là hoàn toàn phù hợp thỏa thuận của các bên tại Điều 6 và Điều 7 của Bản các điều khoản và điều kiện vay tiêu dùng cá nhân của Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Standard Chartered Việt Nam và phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 1 Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng N hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận; Điều 11 Quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng được ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN31-12-2001 của Thống đốc Ngân hàng N được sửa đổi, bổ sung bằng Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN03-2-2005; Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Do đó, yêu cầu về thanh toán các loại tiền lãi và các loại phí của nguyên đơn là có cơ sở để chấp nhận.
Trong khi đó, bị đơn vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình toà án tiến hành điều tra thu thập chứng cứ và tại phiên toà hôm nay, mặc dù đã được toà án tiến hành tống đạt hợp lệ cho phía bị đơn. Bị đơn đã tự từ bỏ quyền tranh tụng tại toà để bảo vệ quyền lợi cho mình. Do vậy, Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét cho quyền lợi của bị đơn.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn thanh toán số tiền tổng cộng là 225.223.620đồng(Hai trăm hai mươi lăm triệu hai trăm hai mươi ba nghìn sáu trăm hai mươi đồng), trong đó bao gồm 208.014.132đồng tiền nợ gốc + 15.989.881đồng tiền lãi + 1.219.607đồng tiền lãi phạt và phí (lãi, lãi phạt và phí chỉ tính đến ngày 10/7/2023) là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật nên có cơ sở để chấp nhận toàn bộ như lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh.
[4].Về án phí:
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả cho nguyên đơn.
Nguyên đơn không phải chịu án phí nên được hoàn lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 146, Điều 147, Điều 227, Điều 266, Điều 267, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật dân sự 2015;
Áp dụng Khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Áp dụng Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự;
Áp dụng Luật án phí, lệ phí Tòa án;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn- Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Standard Chartered Việt Nam.
Buộc bị đơn – ông Trương Văn D phải trả cho Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Standard Chartered Việt Nam số tiền nợ phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số 1540335 ngày 01/7/2020 (bao gồm Đơn xác lập quan hệ khách hàng và Bản các điều khoản và điều kiện khoản vay tiêu dùng cá nhân) tổng cộng là 225.223.620đồng(Hai trăm hai mươi lăm triệu hai trăm hai mươi ba nghìn sáu trăm hai mươi đồng), trong đó bao gồm 208.014.132đồng tiền nợ gốc + 15.989.881đồng tiền lãi + 1.219.607đồng tiền lãi phạt và phí (lãi, lãi phạt và phí chỉ tính đến ngày 10/7/2023).
Ghi nhận sự tự nguyện của phía Nguyên đơn về việc không yêu cầu bị đơn phải thanh toán tiền lãi + lãi phạt và phí trên số tiền nợ gốc kể từ ngày 11/7/2023 cho đến ngày 26/7/2023 cho nguyên đơn.
Phương thức thanh toán và thời hạn thanh toán: Thanh toán dứt điểm một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông D còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Đơn xác lập quan hệ khách hàng và Bản các điều khoản và điều kiện khoản vay tiêu dùng cá nhân ngày 01/7/2020 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong Đơn xác lập quan hệ khách hàng và Bản các điều khoản và điều kiện khoản vay tiêu dùng cá nhân ngày 01/7/2020, nếu các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Các bên đương sự thi hành án tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2. Về án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm là 11.261.181đồng (Mười một triệu hai trăm sáu mươi mốt nghìn một trăm tám mươi mốt đồng) ông Trương Văn D có nghĩa vụ phải nộp toàn bộ.
Hoàn lại số tiền tạm ứng án phí 5.631.000đồng (Năm triệu sáu trăm ba mươi mốt nghìn đồng) cho Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Standard Chartered Việt Nam, theo biên lai thu số 0018564 ngày 08/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh.
3. Quyền kháng cáo:
Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Standard Chartered Việt Nam được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông Trương Văn D được quyền kháng cào trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt bản án hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Thị Nguyệt |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Chu Thị Nguyệt
Bản án số 1452/2024/QĐST-DS ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 1452/2024/QĐST-DS
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
