Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VĨNH YÊN

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 145/2023/HS-ST

Ngày 30-10-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đặng Phú Lâm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Dũng

Bà Vũ Thị Kim Dung

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy Vân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên tham gia phiên toà: Ông Phan Anh Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 123/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 137/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:

Bùi Văn K, sinh ngày 26 tháng 9 năm 1994 tại Vĩnh Phúc; hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ dân phố L, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn D và bà Hoàng Thị Ph; vợ: Không; con: có 01 con; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • + Ngày 27/7/2009, Công an phường Liên Bảo, thành phố Vĩnh Yên ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Bùi Văn K về hành vi “Đánh nhau gây rối trật tự công cộng”, mức phạt cảnh cáo.
  • + Ngày 08/10/2013, Chủ tịch UBND thành phố Vĩnh Yên ra Quyết định số 3049/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Bùi Văn K vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Giáo dục – LĐXH tỉnh Vĩnh Phúc, thời hạn 24 tháng. Ngày 12/7/2015, K chấp hành xong.
  • + Ngày 13/02/2017, Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên ra Quyết định số 03/QĐ-TA về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Bùi Văn K vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Giáo dục – LĐXH tỉnh Vĩnh Phúc, thời hạn 24 tháng. Ngày 17/02/2019, K chấp hành xong.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/7/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc, (có mặt).

Người chứng kiến: Anh Nguyễn Xuân V, sinh năm ; trú tại: TDP Đ, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 15 phút ngày 03/7/2023, Bùi Văn K đang ở nhà một mình thì có nam giới tên H là bạn nghiện quen biết ngoài xã hội với K (K chỉ biết tên là H nhà ở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ còn họ tên đầy đủ và địa chỉ cụ thể của H thì K không rõ) đi xe máy loại xe Wave (K không nhớ biển số và đặc điểm cụ thể của xe) đến nhà gặp K và rủ K đi mua ma túy loại Heroine để cùng nhau sử dụng, K đồng ý. Sau đó, H điều khiển xe máy chở K đi mua ma túy. K chỉ H điều khiển xe đi đến đầu ngõ 2 đường Đầm Vạc, phường Đống Đa, thành phố Vĩnh Yên và bảo H đứng chờ ở đầu ngõ. Tại đây, H có đưa cho K số tiền 250.000đ để mua ma túy. K cầm tiền H đưa và đi vào trong ngõ tìm đến nhà anh Ch (K chỉ nghe các bạn nghiện nói đây là nhà anh Ch còn tên tuổi cụ thể của anh Ch thì K không rõ). Khi tìm được nhà anh Ch, qua khe cửa của ngôi nhà, K có thỏa thuận và mua được của một người bên trong ngôi nhà 01 gói ma túy Herione với giá 250.000đ. Do mua qua khe cửa nên K không nhìn được vào trong nhà, không biết đặc điểm của người đã bán ma túy cho K. Sau khi mua được ma túy, K cầm ma túy ở tay phải rồi đi bộ quay lại chỗ H đứng chờ, cả hai đi tìm nơi vắng vẻ để sử dụng. Khi H điều khiển xe đi đến khu vực đường Hùng Vương thuộc TDP Vĩnh Thịnh 1, phường Tích Sơn, thành phố Vĩnh Yên thì H dừng xe lại và bảo K đứng đợi để H đi mua bơm kim tiêm sử dụng ma túy. Sau đó, K xuống xe đứng chờ còn H điều khiển xe đi đâu K không rõ. Khi đang đứng chờ H thì K bị Tổ công tác của Công an thành phố Vĩnh Yên đến kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, cơ quan Công an phát hiện và thu giữ tại lòng bàn tay phải của K một gói giấy bạc, mở kiểm tra bên trong có chứa chất cục bột màu trắng. K khai nhận là gói ma túy K vừa mua được mục đích để sử dụng, Tổ công tác tiến hành lập biên bản sự việc, niêm phong gói giấy bạc bên trong có chứa chất cục bột màu trắng ký hiệu A1 theo đúng quy định của pháp luật sau đó đưa K cùng vật chứng về trụ sở làm việc.

Tại Kết luận giám định số 1914/KLGĐ-KTHS ngày 07/7/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: “Chất cục bột màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1702 gam loại Heroine". Hoàn trả mẫu vật còn lại sau giám định A1 = 0,1420 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói được niêm phong trong cùng một bao gói giấy “MẪU TRẢ” trên giáp lai có chữ ký của người tham gia đóng gói, niêm phong và hình dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc. Cơ quan điều tra đã thông báo kết quả giám định cho Bùi Văn K biết. Bị cáo không có ý kiến thắc mắc, hay khiếu nại gì.

Tại Cáo trạng số 132/CT-VKSTP.VY ngày 29/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên truy tố Bùi Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn K khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng truy tố.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày luận tội đối với bị cáo; giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như Cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (Hai) năm tù. Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Bị cáo không bào chữa và tranh luận gì. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử được thực hiện đầy đủ, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp pháp.
  2. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, vật chứng thu giữ được, Kết luận giám định, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 40 phút ngày 03/7/2023, tại khu vực đường Hùng Vương, tổ dân phố Vĩnh Thịnh 1, phường Tích Sơn, thành phố Vĩnh Yên, Tổ công tác Công an thành phố Vĩnh Yên, làm nhiệm vụ trên địa bàn thì phát hiện Bùi Văn K có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, mục đích để sử dụng cho bản thân. Thu giữ của K 01 gói giấy nhỏ chứa chất cục bột màu trắng, qua giám định là ma túy có khối lượng 0,1702 gam, loại Heroine.

Hành vi nêu trên của Bùi Văn K đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), nội dung điều luật quy định:

"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

  1. Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.
  2. Xét nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

    Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự là quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo.

    Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

    Nhân thân: Trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân xấu, năm 2009 bị Công an thành phố Vĩnh Yên quyết định xử phạt hành chính cảnh cáo về hành vi đánh nhau gây rối trật tực công cộng; năm 2013 Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Vĩnh Yên, năm 2017 Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên quyết định áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Giáo dục – Lao động xã hội tỉnh Vĩnh Phúc.

    Hành vi phạm tội của bị cáo là một trong những nguyên nhân gây nên các tệ nạn xã hội và tội phạm, do đó cần áp dụng mức hình phạt tù nghiêm khắc, tương xứng với hành vi của bị cáo, như đề nghị của Viện kiểm sát mới có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

  3. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa làm rõ bị cáo là người nghiện nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, không có tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  4. Về vật chứng: Đối với 0,1420 gam ma túy, loại Heroine và toàn bộ bao gói được niêm phong trong một bao gói giấy “MẪU TRẢ” còn lại sau giám định, là vật Nhà nước cấm lưu thông và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
  5. Về vấn đề khác: Đối với nguồn gốc ma túy và người đã bán ma tuý cho Bùi Văn K, quá trình điều tra, K khai nhận: Do được bạn nghiện ngoài xã hội giới thiệu, K hỏi và mua được 01 gói ma túy Heroine với giá 250.000₫ của một người trong ngôi nhà có cửa sắt ở khu vực ngõ 2, đường Đầm Vạc thuộc phường Đống Đa, thành phố Vĩnh Yên. Quá trình mua bán diễn ra qua khe cửa, K không nhìn được vào trong nhà nên không biết người bán ma túy là nam hay nữ, không biết nhân thân, lai lịch của người này. K không nhớ được chính xác vị trí, đặc điểm của ngôi nhà có người bán ma túy nên không tiến hành chỉ dẫn cho Cơ quan điều tra được. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại Công an phường Đống Đa theo nội dung K khai báo, nH chưa xác định được đối tượng nào có biểu hiện bán trái phép chất ma tuý tại khu vực ngõ 2, đường Đầm Vạc, phường Đống Đa, thành phố Vĩnh Yên. Ngoài lời khai của K không có căn cứ nào khác xác định chính xác về đối tượng đã bán ma tuý cho K ngày 03/7/2023. Do vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, nếu có căn cứ xử lý sau.

    Đối với người nam giới tên H là người trở K đi mua ma túy, sau đó đưa số tiền 250.000đ để K mua ma túy ngày 03/7/2023, quá trình điều tra xác định, K không biết rõ nhân thân của người tên H này do mới quen biết. K chỉ biết người này tự giới thiệu tên là H, nhà ở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ là người nghiện ma túy. Ngoài lời khai của K không có căn cứ nào khác xác định chính xác về người tên H đã đưa tiền và đi mua ma túy cùng K. Do vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, nếu có căn cứ xử lý sau.

  6. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Bùi Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Xử phạt Bùi Văn K 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 03 tháng 7 năm 2023).

Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu, tiêu huỷ 0,1420 gam ma túy, loại Heroine và toàn bộ bao gói được niêm phong trong một bao gói giấy “MẪU TRẢ” còn lại sau giám định (đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố Vĩnh Yên và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc).

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Bùi Văn K phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - VKSND thành phố Vĩnh Yên;
  • - Công an thành phố Vĩnh Yên;
  • - Chi cục THADS thành phố Vĩnh Yên;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Đặng Phú Lâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 145/2023/HS-ST ngày 30/10/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 145/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn K
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger