|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO TỈNH ĐIỆN BIÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 145/2024/HS-ST
Ngày 29/7/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lương Thị Nga.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Văn Tuân; nơi công tác: Phòng giáo dục huyện Tuần Giáo.
- Ông Trịnh Quyết Thắng; nơi công tác: Công chức Tư pháp - Hộ tịch xã Chiềng Sinh;
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lợi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo tham gia phiên toà:
Ông Hoàng Đức Thái, Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 144/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 145/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên đối với bị cáo:
Họ và tên: Quàng Văn T; tên gọi khác: Không có tên gọi khác; sinh ngày 25/10/2007; tại xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên; giới tính: Nam; nơi cư trú: Bản C, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: Lớp 11/12; con ông Quàng Văn K, sinh năm 1982; con bà Lò Thị H, sinh năm 1983; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Bị cáo chưa bị xử lý vi phạm hành chính và chưa bị Tòa án các cấp xét xử; bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- * Người đại diện hợp pháp của bị cáo có: Bà Lò Thị H; sinh năm 1983; trú tại: Bản C, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Nông nghiệp; dân tộc: Thái. Có mặt.
- * Người bào chữa cho bị cáo có: Ông Trịnh Ngọc M; Luật sư thực hiện Trợ giúp viên pháp lý của Trung Tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ; có mặt.
- * Đại diện Trường Trung học phổ thông T2: Bà Nguyễn Thị Thanh L; Giáo viên công tác tại Trường Trung học phổ thông T2; có mặt.
- * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Quàng Thị C; sinh năm 1982; trú tại: Bản P, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Nông nghiệp; có mặt.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 40 phút ngày 16/4/2024 Quàng Văn T một mình điều khiển xe máy nhãn hiệu ESPERO, biển kiểm soát 27AZ- 027.00 (xe của Quàng Thị C, sinh năm 1982, trú tại bản Pha Nàng, xã Q, huyện T là bác của T) đi từ trường Trung học phổ thông huyện T về nhà tại bản Chăn, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên. Do bản thân nghiện chất ma túy muốn có ma tuý để sử dụng, nên khi T đi đến đoạn đường thuộc bản Sái Ngoài, xã Q, huyện T thì gặp, trao đổi và mua được của một người đàn ông khoảng 30 tuổi (không biết tên, địa chỉ) 03 viên Methamphetamine được gói bên ngoài bằng nilon màu xanh với giá 150.000 đồng. Mua được M1, T cất giấu vào túi áo khoác bên phải đang mặc rồi tiếp tục điều khiển xe máy đi về nhà. Hồi 22 giờ cùng ngày khi T điều khiển xe máy biển kiểm soát 27AZ - 027.00 đi đến khu vực bản N, xã Q, huyện T thì bị Tổ công tác Công an huyện T kiểm tra. Sau khi được Tổ công tác vận động giải thích, T đã tự giác lấy từ túi áo khoác bên phải đang mặc một gói nilon màu xanh, bên trong có chứa 03 viên nghi ma túy tổng hợp. Tổ công tác đã lập biên bản thu giữ vật chứng và đưa Quàng Văn T cùng vật chứng về Cơ quan điều tra để điều tra, làm rõ.
Tại Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng ngày 17/4/2024 đã xác định như sau: 01 gói nilon màu xanh bên trong có chứa 03 viên nén màu hồng, bên trên mỗi viên nén có ký hiệu “WY” nghi ma túy tổng hợp được xác định tổng khối lượng là 0,28 gam. Cơ quan cảnh sát điều tra đã gửi toàn bộ làm mẫu giám định và ra Quyết định trưng cầu giám định số: 472/QĐ-ĐCSHS-KTMT, ngày 17/4/2024. Tại bản Kết luận giám định số: 713/KL-KTHS ngày 22/4/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ đã kết luận: Vật chứng thu giữ của Quàng Văn T có khối lượng 0,28 là chất Ma túy: Loại Methamphetamine. H1 lại đối tượng giám định là 0,21 gam.
Tại Cáo trạng số: 103/CT-VKSTG ngày 12 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên; đã truy tố bị cáo về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1,3 Điều 91, khoản 1 Điều 101 BLHS; xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS tuyên tịch thu để tiêu hủy 0,21 gam Methamphetamine, 01 mảnh nilon màu xanh, 01 vỏ phong bì cũ. Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn nên đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm.
3
Đề nghị của người bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với tội danh và điều luật mà đại diện viện kiểm sát đề nghị, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đồng thời đề nghị HĐXX xem xét khối lượng thu giữ và mục đích chỉ nhằm sử dụng ngoài ra không có mục đích nào khác, xem xét về hoàn cảnh nhân thân của bị cáo, bản thân bị cáo khi phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, bị cáo đang ở độ tuổi chưa phát triển hoàn thiện về cả thể lực và chí lực nên nhận thức còn hạn chế; dễ bị lôi kéo, do tò mò, hiếu kỳ nên đã mua ma túy để thỏa mãn sự tò mò, hiếu kỳ của bị cáo; ông nội của bị cáo là Quàng Văn P được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì. Từ những nhận định nêu trên đề nghị HĐXX áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 91; khoản 1 Điều 101 BLHS tuyên phạt bị cáo ở mức khởi điểm mà Viện kiểm sát đề nghị và áp dụng quy định đối với người chưa thành niên phạm tội cho bị cáo; đề nghị không phạt bổ sung và miễn án phí cho bị cáo.
Người đại diện theo pháp luật: Bi cáo còn là học sinh, khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi; gia đình cũng đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo còn tiếp tục học tập, rèn luyện bản thân.
Đại diện nhà trường: Đề nghị HĐXX tạo điều kiện cho học sinh Quàng Văn T mức án thấp nhất, để em T tiếp tục học tập.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bị cáo mượn xe để đi học, việc bị cáo sử dụng xe đi mua ma túy sử dụng không biết. Ngày 26/4/2024 đã nhận lại tài sản là 01 xe máy nhãn hiệu ESPERO biển kiểm soát 27AZ-027.00; không có ý kiến khiếu nại liên quan đến quyền lợi.
Tại phiên tòa, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xem xét miễn hình phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Xét về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình tố tụng công khai tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi của mình phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, Biên bản niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng, Kết luận giám định; Biên bản ghi lời khai; Biên bản hỏi cung; bản tường trình; Kết luận điều tra; Cáo trạng; do đó có đủ cơ sở kết luận: Ngày 16/4/2024, bị cáo bị bắt quả tang khi đang có hành vi cất giấu trên người 0,28 gam ma túy loại Methamphetamin. Nguồn gốc Ma túy bị cáo mua của một người đàn ông không rõ lai lịch, với giá 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) với mục đích sử dụng. Hành vi tàng trữ chất ma túy nhằm mục đích sử dụng đã cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì vậy hành vi phạm tội của bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố và Kiểm sát viên luận tội là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
4
- Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm những quy định của Nhà nước trong việc quản lý, sử dụng các chất ma túy; hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, gây mất trật tự trị an tại địa phương và làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự ổn định, phát triển của xã hội. Vì vậy, cần xử lý nghiêm minh nhằm răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên (bị cáo mới 16 tuổi 05 tháng 24 ngày tuổi), nên bị cáo chỉ phải chịu mức án bằng ba phần tư so với người đã thành niên, đây là chính sách khoan hồng giảm nhẹ của pháp luật đối với người chưa thành niên phạm tội; do đó HĐXX áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 91, khoản 1 Điều 101 BLHS để quyết định hình phạt đối với bị cáo.
- Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Bị cáo phạm tội lần đầu, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; bị cáo có ông nội là Quàng Văn P được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhì; vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249, khoản 6 Điều 91 BLHS quy định; bị cáo không bị phạt bổ sung; nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Xét đề nghị về tội danh và mức hình phạt của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đối với bị cáo; Hội đồng xét xử xét thấy là đúng hành vi phạm tội, tính chất, mức độ, tình tiết giảm nhẹ của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Xét đề nghị của người bào chữa: Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của người bào chữa là phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi, tình tiết giảm nhẹ, áp dụng quy định đối với người chưa thành niên cho bị cáo; điều kiện hoàn cảnh của bị cáo; nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS, HĐXX xử lý vật chứng như sau: 0,21 gam Methamphetamin là vật chứng hoàn lại, đây là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 mảnh nilon màu xanh, 01 vỏ phong bì cũ không còn giá trị sử dụng nên tịch thu để tiêu hủy.
Đối với 01 xe máy nhãn hiệu ESPERO biển kiểm soát 27AZ - 027.00 của chị Quàng Thị C, do bị cáo tự ý sử dụng xe, chị C không biết bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội nên chị C không có lỗi; Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T trả lại xe cho chị Quàng Thị C là đúng theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và
5
sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và bị cáo có đơn xin miễn án phí vì vậy bị cáo đủ điều kiện miễn án phí hình sự sơ thẩm.
- Đối với người đàn ông, bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo, nhưng khi mua bị cáo không biết tên tuổi địa chỉ ở đâu nên không có cơ sở xác minh làm rõ, do đó tại vụ án này HĐXX không xem xét.
- Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thấy rằng: Không có ý kiến khiếu nại các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng theo quy định của Pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự:
- Tội danh: Tuyên bố bị cáo Quàng Văn Trọng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1, khoản 3 Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Quàng Văn T 09 (Chín) tháng tù; thời gian thi hành án phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
- Vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; tuyên tịch thu để tiêu hủy 01 phong bì niêm phong của Phòng K1 - Công an tỉnh Đ các mép đều được dán kín bên trong phong bì có 01 mẫu vật hoàn lại sau giám định, có khối lượng là 0,21 gam Methamphetamine và 01 gói niêm phong bằng phong bì màu trắng, các mép đều được dán kín, bên trong là vật chứng còn lại vụ Quàng Văn T gồm: 01 mảnh nilon màu xanh, 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng.
(Đặc điểm vật chứng được ghi theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/7/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo).
- Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 332; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo, người đại diện hợp pháp, người bào chữa cho bị cáo được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 29/7/2024). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần liên quan đến quyền lợi của mình có trong bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 29/7/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Lương Thị Nga |
Bản án số 145/2024/HS-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 145/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
