Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

Q. THANH KHÊ – TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 145/2023/HS-ST

Ngày: 28-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Hưng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Nhớ

Ông Trần Trung Nam

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Nguyễn Viết Cường - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Anh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 149/2023/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 149/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Trần M, sinh ngày 15 tháng 4 năm 1990 tại Đà Nẵng; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ B, phường V, quận T, Tp Đà Nẵng; Chỗ ở hiện nay: K B, phường V, quận T, Tp Đà Nẵng; Nghề nghiệp: lao động phổ thông; Trình độ văn hóa: 08/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Con ông Nguyễn T, sinh năm 1951 và bà Trần Thị Bích H, sinh năm 1958. Có vợ là Nguyễn Thị Phương L, sinh năm 1985 và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2013; Tiền án: Ngày 20/12/2017, bị Tòa án nhân dân quận Hải Châu, Tp Đà Nẵng xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản" theo bản án số 112/2017/HSST. Ngày 23/8/2019 bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, Tp Đà Nẵng xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h (tái phạm) khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tổng hợp hình phạt của bản án số 112/2019/HSST ngày 20/12/2017 buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 03 năm 06 tháng tù, chấp hành xong hình phạt ra tù ngày 16/6/2022; Tiền sự: Chưa; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 01/5/2023. Có mặt.

2. Trần Văn T1, sinh ngày 27 tháng 12 năm 1989 tại Đà Nẵng; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ B, phường T, quận T, Tp Đà Nẵng; Nghề nghiệp: lao động phổ thông; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Con ông Trần Văn C (chết) và bà Nguyễn Thị Thanh H1, sinh năm 1968. Có vợ là Hồ Huỳnh Như N, sinh năm 1995 và 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Chưa; Nhân thân: Ngày 15/3/2007 bị Tòa án nhân dân Tp Đà Nẵng xử phạt 06 tháng 15 ngày về tội “Cố ý gây thương tích” theo Khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999 (trả tự do tại phiên tòa, tính đến ngày phạm tội T1 chưa đủ 18 tuổi) theo bản án số 22/2007/HSPT, Ngày 24/10/2018 bị Tòa án nhân dân quận Hải Châu, Tp Đà Nẵng xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 BLHS, điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 01/5/2023. Có mặt.

- Bị hại:

  1. Công ty cổ phần K, Văn phòng đại diện tại Đà Nẵng. Địa chỉ: A N, phường C, quận T, Tp Đà Nẵng. Đại diện: Ông Lê Hữu T2, chức vụ: Trưởng đại diện. Đại diện theo ủy quyền: Bà Đoàn Thị Mỹ N1, trú tại: B H, phường H, quận H, Tp Đà Nẵng. Vắng mặt.
  2. Công ty TNHH MTV P3, địa chỉ: A N, phường H, quận N, Tp Đà Nẵng. Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hoàng P, chức vụ: giám đốc. Đại diện theo ủy quyền: Ông Ngô Công D, trú tại: K T, phường X, quận T, Tp Đà Nẵng. Vắng mặt.
  3. Công ty TNHH X, địa chỉ: I T, phường P, quận H, Tp Đà Nẵng. Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Anh T3, chức vụ: giám đốc. Đại diện theo ủy quyền: Ông Ngô Công D, trú tại: K T, phường X, quận T, Tp Đà Nẵng. Vắng mặt.
  4. Ông Phạm Hoàng Thiên L1, sinh năm 1995, trú tại: B T, Đà Nẵng. Vắng mặt.
  5. Công ty TNHH P3, địa chỉ: Lô G đường  - KDC N, thôn B, xã H, huyện H, Tp Đà Nẵng. Đại diện: Ông Hoàng Đức L2, chức vụ: Giám đốc. Đại diện theo ủy quyền: Ông Dương Công L3, trú tại: C đường B tháng C, phường H, quận C, Tp Đà Nẵng. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Trần Anh T4, sinh năm 1973, trú tại: C H, phường V, quận T, Tp Đà Nẵng. Vắng mặt.
  2. Bà Võ Thị L4, sinh năm 1979, trú tại: Tổ E, phường M, quận N, Tp Đà Nẵng. Vắng mặt.
  3. Bà Nguyễn Thị Mộng T5, sinh năm 1981, trú tại: Đường T, phường H, quận H, Tp Đà Nẵng. Vắng mặt.
  4. Ông Lê H2, sinh năm 1960, trú tại: K01/53 Đ, quận T, Tp Đà Nẵng. Vắng mặt.
  5. Ông Nguyễn Đức P1, sinh năm 1965, trú tại: Tổ B, phường H, quận L, Tp Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ ngày 17/02/2023 đến ngày 01/5/2023 trên địa bàn quận T, thành phố Đà Nẵng, Nguyễn Trần M và Trần Văn T1 đã cấu kết chặt chẽ với nhau thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản, cụ thể:

+ Vụ 01: Khoảng 01 giờ ngày 17/02/2023, M rủ T1 cùng nhau đi dạo trên các tuyến đường xem ai sơ hở thì trộm cắp tài sản. Khi đi đến nhà số A N, phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng là Văn phòng đại diện Công ty cổ phẩn Kiểm định an toàn 3 tại Đà Nẵng do ông Lê Hữu T2 là người đứng đầu, đóng cửa không có người trông coi, M và T1 trèo vào nhà gỗ bên cạnh số A N là một quán cà phê cũ đã ngừng hoạt động rồi lên mái nhà, dùng gạch, kìm cộng lực đập vỡ cửa kính và cắt khung sắt cửa sổ Văn phòng Công ty lẻn vào trong lấy số tài sản gồm 01 máy vi tính xách tay hiệu Sony Vaio màu xám, 01 dàn máy vi tính để bàn hiệu Dell màu đen và 01 két sắt Việt – Tiệp mang ra ngoài. Do không mở được két sắt, cả hai bỏ lại chỗ khuất ở quán cà phê số A N, Tp Đà Nẵng, còn 01 máy tính xách tay và máy tính để bàn, M đăng lên mạng xã hội facebook bán cho một người (không rõ nhân thân lai lịch) được số tiền 1.700.000 đồng. M chia cho T1 350.000 đồng, còn lại M tiên xài cá nhân hết.

Tại Bản kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá trong tố tụng quận T số 85 ngày 31/5/2023 xác định: 01 máy tính xách tay hiệu Sony Vaio mau xám có giá trị 2.000.000 đồng; 01 máy tính để bàn Dell có giá trị 6.000.000 đồng; két sắt V – Tiệp có giá trị 2.860.000 đồng. Tổng tài sản có giá trị: 10.860.000 đồng (Mười triệu tám trăm sáu mươi ngàn đồng).

Đối với số tiền 3.000.000 đồng Văn phòng đại diện Công ty cổ phần K tại Đà Nẵng kê khai để trong két sắt nhưng không cung cấp được hóa đơn, chứng từ thể hiện nên không có đủ cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với M và T1 chiếm đoạt số tiền trên.

Vật chứng tạm giữ: 01 kìm cộng lực dài 85cm; 01 đoạn khung kim loại bị cắt rời (thu giữ tại hiện trường)

Vụ 2: Khoảng 01 giờ 00' ngày 28/3/2023, M rủ T1 đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài. T1 điều khiển xe Honda SH biển kiểm soát 43H1 - 279.92 còn M điều khiển xe Air Blade biển kiểm soát 43D1-136.31 dạo quanh các tuyến đường để tìm tài sản. Khi đến trước công trình nhà đang xây dựng số A H, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng do Công ty TNHH Một thành viên P3 và Công ty TNHH X cùng thi công ngôi nhà trên; T1 đứng ngoài còn M trèo lên thông qua dàn giáo dựng sẵn ở trước nhà vào tầng 2 để xem xét. Lúc này, M nhìn thấy có rất nhiều đồ dùng, thiết bị xây dựng nên gọi T1 leo vào. Cả hai đã lấy số tài sản:

+ Lấy của Công ty P3 gồm: 01 máy đục trung hiệu Makita, 01 máy đục trung hiệu Feg, 02 máy khoan hiệu Feg, 01 máy khoan hiệu Total, 02 máy laser hiệu Lustos, 01 máy hàn điện hiệu Jassi, 01 máy cắt chạy bằng pin hiệu Makita, 01 máy khoan chạy bằng pin hiệu Makita, 01 máy cắt cầm tay hiệu Makita, 01 máy cắt cầm tay hiệu DCA, 01 máy khoan nhỏ hiệu Feg, 01 cuộn ống đồng phi 16 hiệu Haliang, 02 cuộn ống đồng phi 10 Haliang; 10 cuộn dây điện 4.0 mm hiệu Cadivi, 06 cuộn dây điện 2,5mm hiệu Cadivi; 06 cuộn dây điện 1.5mm hiệu Cadivi; 01 cuộn dây điện đôi 2x2,5mm dài 35 mét hiệu Cadivi; 01 đoạn dây cáp 4x16mm dài 12 mét; 01 đoạn dây cáp 4x10mm dài 8,5 mét.

+ Lấy của Công ty X tài sản gồm: 01 máy tời, 01 mô tơ máy trộn bê tông, 01 máy khoan bê tông hiệu Feg, 01 máy cắt cầm tay hiệu Bosh, 01 máy cắt gỗ hiệu Feg, 02 cuộn dây điện 2x2,5mm (01 cuộn dây điện 2x2.5mm dài 30 mét, 01 cuộn dây điện 2x2.5mm dài 40 mét), 01 máy đục trung hiệu Classic.

Tất cả bỏ vào 05 bao tải rồi ném xuống vào bãi cát trước công trình. Sau đó, cả hai vận chuyển số tài sản trên đem cất giấu ở khu vực C. Ngày hôm sau, M chở đi bán cho Trần Anh T4 là chủ cửa hàng kinh doanh mua bán, sửa chữa các dụng cụ thi công công trình các loại máy với số tiền 2.000.000 đồng và bán các cuộn dây điện cho người phụ nữ (không rõ nhân thân, lai lịch) đi thu mua phế liệu trên đường H, thành phố Đà Nẵng được 500.000 đồng, tổng cộng được số tiền 2.500.000 đồng. M chia cho T1 số tiền 1.000.000 đồng, còn lại tiêu xài cá nhân hết.

Tại Bản kết luận định giá tài sản ngày 27/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự quận T xác định: Tổng các tài sản có giá trị là 45.767.207 đồng (trong đó tài sản của Công ty P3 có giá trị 34.861.989 đồng, của Công ty X có giá trị: 10.905.218 đồng).

+ Vụ 03: Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 01/5/2023, Nguyễn Trần M rủ Trần Văn T1 đi trộm cắp tài sản. T1 điều khiển xe Air Blade biển kiểm soát 43D1136.31 chở M đi đến trước nhà số K Đ, phường V, quận T, thành phố Đà Nẵng là công trình nhà đang xây dựng không có người trông coi. T1 đứng ngoài cảnh giới còn M lẻn vào trong tìm tài sản nhưng không có gì. M đi lên tầng 4 của ngôi nhà đang xây dựng nhìn thấy tầng thượng của nhà bên cạnh số K Đ, thành phố Đà Nẵng cửa không khoá, nhà không có người nên M trèo qua và đi xuống tầng 1 phát hiện có một bộ điều hoà hiệu LG gồm 01 dàn nóng và 01 dàn lạnh đang đặt phía trước cửa ra vào. Mẫn bê cả bộ điều hoà trên lên tầng thượng rồi đưa sang nhà xây dựng, M dùng dây thừng buộc dàn nóng và dàn lạnh thả xuống đất. Sau đó, M bê bộ điều hoà ra ngoài thì lực lượng tuần tra Công an phường V phát hiện bắt quả tang lúc 02 giờ ngày 01/5/2023 và đưa về trụ sở làm việc. Còn T1 đứng ngoài chờ lâu nên nên đã lái xe bỏ về nhà.

Tang vật tạm giữ:

  • + 01 máy điều hoà hiệu LG (gồm 01 máy lạnh và 01 máy nóng)
  • +01 Iphone 6 Plus (thu giữ của Nguyễn Trần M sử dụng vào việc phạm tội)

Theo kết luận định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận T ngày 08/5/2023 xác định: 01 điều hòa nhiệt độ LG sản phẩm S09ENA, công suất BTU có giá trị 3.000.000 đồng.

Qua điều tra xác định: Nhà số A Đ, phường V, quận T, thành phố Đà Nẵng do anh Trần Đình Nguyễn P2 làm chủ. Tháng 7/2022, anh P2 cho anh Phạm Hoàng Thiên L1 thuê nhà nguyên căn không có tài sản kèm theo. Do anh P2 đang chuẩn bị lấy lại nhà để sửa chữa nên bộ điều hoà anh L1 tháo ra để tầng trệt. Ngày 20/6/2023, Cơ quan CSĐT Công an quận T đã trả lại bộ điều hòa cho anh L1 01 máy điều hoà hiệu LG (gồm 01 máy lạnh và 01 máy nóng). Anh L1 nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường.

Tổng cộng số tài sản Nguyễn Trần M và Trần Văn T1 03 lần trộm cắp có giá trị 59.627.207 đồng (Năm mươi chín triệu, sáu trăm hai mươi bảy nghìn, hai trăm lẻ bảy đồng).

Ngoài ra, M còn khai nhận thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể: Khoảng 01 giờ ngày 31/3/2023, M lẻn vào công trình đang xây nhà số D N phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng do Công ty TNHH P3 trụ sở: 15 Â, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng thi công, lấy trộm ở tầng trệt một số tài sản: máy khoan nhỏ hiệu Bosch GWS320, 01 máy khoan cỡ lớn vừa hiệu Bosch GWS060, 01 mô tơ máy trộn bê tông Toàn Phát, 01 máy cắt bàn nhãn hiệu Makita 355 M2401B, 01 máy cắt gỗ hiệu Makita M5801B, 01 máy đo laze hiệu Laisai LSG686 SPD, 01 máy cắt cầm tay hiệu Makita 9553B, 01 máy hàn hiệu Makita 3 li 2. Sau đó, M đem bán cho Trần Anh T4 được số tiền 1.500.000 đồng tiêu xài.

Theo Bản kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự quận T ngày 18/9/2023 xác định: 01 máy khoan loại nhỏ hiệu BOSCH có giá trị: 620.000 đồng, 01 máy khoan cỡ vừa hiệu BOSCH có giá trị 750.000 đồng, 01 máy trộn bê tông Toàn Phát có giá trị 1.780.000 đồng, 01 máy cắt sắt bàn nhãn hiệu Makita có giá trị 2.000.000 đồng, 01 máy cắt gỗ hiệu Makita có giá trị 1.500.000 đồng, 01 máy đo laze hiệu Laisai có giá trị 1.920.000 đồng, 01 máy cắt cầm tay hiệu Makita có giá trị 1.030.000 đồng, 01 máy hàn hiệu H3 ký 3 li2 có giá trị 2.100.000 đồng. Tổng cộng tài sản có giá trị 11.700.000 đồng (Mười một triệu bảy trăm ngàn đồng)

Như vậy, Nguyễn Trần M đã 04 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 71.327.207 đồng (Bảy mươi mốt triệu, ba trăm hai mươi bảy nghìn, hai trăm lẻ bảy đồng).

Bên cạnh đó, M và T1 còn khai nhận thực hiện 01 vụ trộm cắp tài sản khác, cụ thể: Khoảng 01 giờ ngày 28/4/2023 tại K Đ, phường V, quận T, thành phố Đà Nẵng cả hai lấy 03 mô tơ (gồm: 01 máy trộm bê tông, 01 máy tời, 01 máy tời chậm) mang cất giấu khu vực gần cầu T. Tuy nhiên, qua điều tra truy tìm vật chứng không thu giữ được các tài sản và làm việc ông Lê H2 chủ nhà số K Đ, TP . và ông Nguyễn Đức P1 là giám sát thi công công trình xây dựng nhà ông H2 tại địa chỉ trên đều xác nhận trong thời gian trên không bị mất tài sản; nên không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với M và T1 trong trường hợp này.

Vật chứng tạm giữ:

  • +01 xe xe Honda SH Mode màu đỏ biển kiểm soát: 43H1 – 279.92 (thu giữ của Trần Văn T1)
  • +02 mô tơ màu xám (loại phục vụ cho máy tời, máy trộn bê tông); 01 máy khoan cầm tay; 01 máy đục màu cam; 01 máy khoan bê tông; 01 máy cắt cầm tay màu xanh; 01 máy cắt cầm tay màu cam (Trần Anh T4 giao nộp)

*Trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng:

  • - Ngày 26/9/2023, Cơ quan CSĐT Công an quận T đã trả cho anh Dương Công L3 là đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH P3: 01 mô tơ (máy tời, máy trộn bê tông) màu xám hiệu Toàn Phát có dây điện màu đỏ có giá trị: 1.780.000 đồng. Anh L3 nhận tài sản và tiếp tục yêu cầu Nguyễn Trần M bồi thường giá trị tài sản đã lấy còn lại với số tiền 9.200.000 đồng.
  • + Ngày 26/9/2023, Cơ quan điều tra trả lại cho ông Ngô Công D là đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH X với số tài sản: 01 mô tơ máy trộn bê tông Toàn Phát màu xám, 01 máy đục màu cam hiệu Classic; 1 máy khoan bê tông hiệu Feg; 01 máy cắt cầm tay màu xanh hiệu Bosh. Trả cho ông Ngô Công D là đại diện theo ủy quyền của Công ty P3 số tài sản: khoan cầm tay hiệu Total; 01 máy cắt cầm tay màu cam hiệu Makita. Anh D yêu cầu M và T1 tiếp tục bồi thường giá trị tài sản trộm cắp của Công ty P3 số tiền 33.000.000 đồng, bồi thường cho Công ty X với số tiền 5.000.000 đồng. M và T1 chưa bồi thường.
  • + Đại diện theo ủy quyền của Văn phòng Đại diện Công ty Cổ phần kiểm định an toàn 3 tại Đà Nẵng là chị Đoàn Thị Mỹ N1 không yêu cầu M và T1 bồi thường thiệt hại tài sản đã mất.
  • +Anh Trần Anh T4 không yêu cầu bị cáo M và T1 bồi thường giá trị số tài sản đã giao nộp.
  • + Qua điều tra xác định, xe Honda SH Mode màu đỏ biển kiểm soát 43H1 – 279.92 do bà Võ Thị L4 (là mẹ vợ Trần Văn T1) đứng tên chủ sở hữu mua năm 2019. Ngày 28/3/2023, T1 mượn xe để đi làm bà L4 không biết T1 sử dụng đi trộm cắp tài sản. Nên ngày 18/7/2023, Cơ quan CSĐT Công an quận T đã trả lại xe cho bà L4.
  • + Đối với xe mô tô hiệu Air Blade biển kiểm soát 43D1-136.31 do chị Nguyễn Thị Mộng T5 (là chị ruột của Nguyễn Trần M) đứng tên chủ sở hữu. Do xe bị hư hỏng chị T5 thường để ở tiệm sửa xe cho M sửa chữa và M lấy sử dụng đi trộm cắp tài sản. Chị T5 không biết M sử dụng xe vào việc phạm tội.

* Nguyên nhân, điều kiện phạm tội: Do cần tiền tiêu xài, Nguyễn Trần M và Trần Văn T1 đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản người khác.

Ngày 10/10/2023, gia đình Trần Văn T1 đã nộp tiền khắc phục hậu quả với số tiền 5.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Thanh Khê theo biên lai thu tiền số 0000867. Ngày 08/11/2023, gia đình Nguyễn Trần M đã nộp tiền khắc phục hậu quả với số tiền 3.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Thanh Khê theo biên lai thu tiền số 0000890.

Vật chứng: 01 kìm cộng lực dài 85cm; 01 đoạn khung kim loại bị cắt rời; 01 Iphone 6 Plus; 01 đoạn dây thừng đầu có 01 móc sắt dài khoảng 15 m đã chuyển đến Chi cục Thi hành án Dân sự quận Thanh Khê quản lý theo quy định pháp luật.

Quá trình điều tra, Nguyễn Trần M và Trần Văn T1 đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.

Tại bản cáo trạng số 144/CT- VKS ngày 25 tháng 10 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố Nguyễn Trần M về tội "Trộm cắp tài sản" theo điểm a, c, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; Trần Văn T1 về tội "Trộm cắp tài sản" theo điểm a, c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng thực hành quyền công tố Nhà nước giữ nguyên toàn bộ nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Trần M, Trần Văn T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”, áp dụng:

  • - Điểm a, c, g khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Trần M từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm 06 tháng tù.
  • - Điểm a, c khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn T1 từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 kìm cộng lực dài 85cm; 01 đoạn khung kim loại bị cắt rời; 01 đoạn dây thừng đầu có 01 móc sắt dài khoảng 15 m.
  • - Tịch thu, nộp ngân sách Nhà Nước: 01 Iphone 6 Plus màu bạc, số Imei 354393068980573.
  • - Tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án: Đối với số tiền 5.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Thanh Khê theo biên lai thu tiền số 0000867 ngày 10/10/2023; Số tiền 3.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Thanh Khê theo biên lai thu tiền số 0000890 ngày 08/11/2023.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 586, 587, 589 Bộ luật Dân sự:

  • - Buộc bị cáo Nguyễn Trần M, Trần Văn T1 liên đới bồi thường cho anh Công ty TNHH MTV P3 số tiền 33.000.000 đồng, chia phần mỗi bị cáo bồi thường 16.500.000 đồng.
  • - Buộc bị cáo Nguyễn Trần M, Trần Văn T1 liên đới bồi thường cho Công ty TNHH X số tiền 5.000.000 đồng, chia phần mỗi bị cáo bồi thường 2.500.000 đồng.
  • - Buộc bị cáo Nguyễn Trần M bồi thường cho Công ty TNHH P3 số tiền 9.200.000 đồng.

Bị cáo Nguyễn Trần M thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố là đúng. Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là sai trái, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo Trần Văn T1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố là đúng. Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo đã sai, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra, xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Trần M, Trần Văn T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Từ ngày 17/02/2023 đến ngày 01/5/2023 trên địa bàn quận T, Tp Đà Nẵng, Nguyễn Trần MTrần Văn T1 cùng nhau bàn bạc thống nhất thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản để bán lấy tiền lấy tiền tiêu xài cá nhân. Cụ thể: Ngày 17/02/2023, Nguyễn Trần MTrần Văn T1 trộm cắp của Văn phòng đại diện Công ty cổ phần K tại Đà Nẵng số tài sản có giá trị 10.860.000 đồng; ngày 28/3/2023 trộm cắp của Công ty TNHH MTV P3 có giá trị 34.861.989 đồng và của Công ty X số tài sản có giá trị 10.905.218 đồng, tổng cộng 45.767.207 đồng; Ngày 01/5/2023, trộm cắp của ông Phạm Hoàng Thiên L1 số tài sản có giá trị 3.000.000 đồng. Ngoài ra, ngày 31/3/2023 Nguyễn Trần M còn trộm cắp của Công ty TNHH P3 có giá trị 11.700.000 đồng.

Nguyễn Trần M đã 04 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt qua định giá là 71.327.207 đồng (Bảy mươi mốt triệu, ba trăm hai mươi bảy ngàn, hai trăm lẻ bảy đồng); Trần Văn T1 đã 03 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt qua định giá là 59.627.207 đồng (Năm mươi chín triệu, sáu trăm hai mươi bảy ngàn, hai trăm lẻ bảy đồng).

Các bị cáo Nguyễn Trần MTrần Văn T1 cùng nhau bàn bạc thống nhất, chuẩn bị phương tiện phạm tội, có sự cấu kết chặt chẽ để cùng nhau thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản có tổng giá trị trộm cắp là 59.627.207 đồng (Năm mươi chín triệu, sáu trăm hai mươi bảy ngàn, hai trăm lẻ bảy đồng). Do đó, các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “Có tổ chức”, “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng”. Bị cáo M có tiền án chưa được xóa án tích, đã tái phạm mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, lần phạm tội này của bị cáo M thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”. Do đó, hành vi trên của Nguyễn Trần M đã phạm vào tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại điểm a, c, g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; Trần Văn T1 đã phạm vào tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng số 144/CT- VKS ngày 25 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo thì thấy:

Hành vi của các bị cáo có tính chất nghiêm trọng, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội. Các bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của bị hại trong việc quản lý tài sản, cấu kết chặt chẽ, cùng nhau bàn bạc thống nhất, phân công nhiệm vụ, chuẩn bị phương tiện phạm tội để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo M là người khởi xướng, rủ rê bị cáo T1 đi trộm cắp tài sản. Mẫn đột nhập vào trước, T1 đứng ngoài cảnh giới, sau đó M gọi T1 vào để cùng trộm cắp tài sản, tẩu thoát, tiêu thụ tài sản và chia tiền để tiêu xài cá nhân. Bị cáo M phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, chiếm đoạt tài sản nhiều hơn, là người thực hành tích cực hơn, được chia tiền nhiều hơn bị cáo T1 nên bị cáo M có vai trò lớn hơn bị cáo T1 trong vụ án này.

Bị cáo Nguyễn Trần M có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích. Bị cáo Trần Văn T1 có nhân thân xấu, 02 tiền án đã được xóa án tích. Cho nên mức hình phạt của bị cáo M phải cao hơn bị cáo T1.

Do vậy, hình phạt đối với các bị cáo phải thỏa đáng và tương xứng với hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo để bị cáo có điều kiện cải tạo tu dưỡng để trở thành công dân có ích cho xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo đều phạm tội 02 lần trở lên là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, tác động gia đình khắc phục hậu quả với số tiền 3.000.000 đồng đối với bị cáo M và 5.000.000 đồng đối với bị cáo T1, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Từ những phân tích trên, xét lời luận tội của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê về tội danh, mức hình phạt là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01 kìm cộng lực dài 85cm; 01 đoạn khung kim loại bị cắt rời; 01 đoạn dây thừng đầu có 01 móc sắt dài khoảng 15 m là phương tiện phạm tội của các bị cáo, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 Iphone 6 Plus màu bạc, số Imei 354393068980573 bị cáo M sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà Nước.
  • - Đối với số tiền 5.000.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000867 ngày 10/10/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Thanh Khê và số tiền 3.000.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000890 ngày 08/11/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Thanh Khê cần tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án.
  • - Đối với các tài sản các bị cáo trộm cắp mà Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu hồi, trả lại cho bị hại, Hội đồng xét xử thấy phù hợp.
  • - Đối với xe Honda SH Mode màu đỏ biển kiểm soát 43H1 – 279.92 do bà Võ Thị L4 (là mẹ vợ Trần Văn T1) đứng tên chủ sở hữu mua năm 2019. Ngày 28/3/2023, T1 mượn xe để đi làm bà L4 không biết T1 sử dụng đi trộm cắp tài sản. Nên ngày 18/7/2023, Cơ quan CSĐT Công an quận T đã trả lại xe cho bà L4, Hội đồng xét xử thấy phù hợp.
  • - Đối với xe mô tô hiệu Air Blade biển kiểm soát 43D1-136.31 do chị Nguyễn Thị Mộng T5 (là chị ruột của Nguyễn Trần M) đứng tên chủ sở hữu. Do xe bị hư hỏng chị T5 thường để ở tiệm sửa xe cho M sửa chữa và M lấy sử dụng đi trộm cắp tài sản. Chị T5 không biết M sử dụng xe vào việc phạm tội, Hội đồng xét xử thấy phù hợp.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

  • - Đại diện theo ủy quyền của Văn phòng Đại diện Công ty Cổ phần kiểm định an toàn 3 tại Đà Nẵng là chị Đoàn Thị Mỹ N1 không yêu cầu MT1 bồi thường thiệt hại tài sản đã mất nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - Ngày 26/9/2023, Cơ quan điều tra trả lại cho ông Ngô Công D là đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH X với số tài sản có giá trị 5.903.018 đồng: 01 mô tơ máy trộn bê tông Toàn Phát màu xám, 01 máy đục màu cam hiệu Classic; 1 máy khoan bê tông hiệu Feg; 01 máy cắt cầm tay màu xanh hiệu Bosh; Trả cho ông Ngô Công D là đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH MTV P3 số tài sản có giá trị 1.752.309 đồng bao gồm: khoan cầm tay hiệu Total; 01 máy cắt cầm tay màu cam hiệu Makita. Anh D yêu cầu MT1 tiếp tục bồi thường giá trị tài sản trộm cắp của Công ty TNHH MTV P3 số tiền 33.000.000 đồng, bồi thường cho Công ty TNHH X với số tiền 5.000.000 đồng, tại phiên tòa các bị cáo MT1 đều đồng ý bồi thường số tiền này, do đó Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp, buộc Nguyễn Trần M, Trần Văn T1 liên đới bồi thường cho Công ty TNHH MTV P3 số tiền 33.000.000 đồng, chia phần mỗi bị cáo bồi thường 16.500.000 đồng; Buộc bị cáo Nguyễn Trần M, Trần Văn T1 liên đới bồi thường cho Công ty TNHH X số tiền 5.000.000 đồng, chia phần mỗi bị cáo bồi thường 2.500.000 đồng.
  • - Anh Trần Anh T4 không yêu cầu bị cáo MT1 bồi thường giá trị số tài sản đã giao nộp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - Ngày 20/6/2023, Cơ quan CSĐT Công an quận T đã trả lại bộ điều hòa cho anh L1 01 máy điều hoà hiệu LG (gồm 01 máy lạnh và 01 máy nóng). Anh L1 nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - Ngày 26/9/2023, Cơ quan CSĐT Công an quận T đã trả cho anh Dương Công L3 là đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH P3: 01 mô tơ (máy tời, máy trộn bê tông) màu xám hiệu Toàn Phát có dây điện màu đỏ có giá trị: 1.780.000 đồng. Anh L3 nhận tài sản và tiếp tục yêu cầu Nguyễn Trần M bồi thường giá trị tài sản đã lấy còn lại với số tiền 9.200.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp, buộc Nguyễn Trần M bồi thường cho Công ty TNHH P3 số tiền 9.200.000 đồng.

[7] Đối với Trần Anh T4 mua tài sản của Nguyễn Trần M nhưng T4 không biết đó là tài sản do M phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T không xử lý hình sự, Hội đồng xét xử thấy phù hợp.

Đối với MT1 còn khai nhận thực hiện 01 vụ trộm cắp tài sản khác: Khoảng 01 giờ ngày 28/4/2023 tại K Đ, phường V, quận T, thành phố Đà Nẵng cả hai lấy 03 mô tơ (gồm: 01 máy trộm bê tông, 01 máy tời, 01 máy tời chậm) mang cất giấu khu vực gần cầu T. Tuy nhiên, qua điều tra truy tìm vật chứng không thu giữ được các tài sản và làm việc ông Lê H2 chủ nhà số K Đ, TP . và ông Nguyễn Đức P1 là giám sát thi công công trình xây dựng nhà ông H2 tại địa chỉ trên đều xác nhận trong thời gian trên không bị mất tài sản; nên không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với MT1 trong trường hợp này, Hội đồng xét xử thấy phù hợp.

[8] Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Án phí dân sự sơ thẩm:

  • + Số tiền buộc bị cáo Nguyễn Trần M bồi thường cho các bị hại là: 16.500.000 đ + 2.500.000 đ + 9.200.000 đ = 28.200.000 đồng. Bị cáo M đã khắc phục hậu quả với số tiền 3.000.000 đồng, số tiền còn lại bị cáo M còn phải bồi thường là 25.200.000 đồng. Bị cáo M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 25.200.000đ x 5% = 1.260.000 đồng.
  • + Số tiền buộc bị cáo Trần Văn T1 bồi thường cho các bị hại là: 16.500.000 đ + 2.500.000 đ = 19.000.000 đồng. Bị cáo T1 đã khắc phục hậu quả với số tiền 5.000.000 đồng, số tiền còn lại bị cáo T1 còn phải bồi thường là 14.000.000 đồng. Bị cáo T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 14.000.000đ x 5% = 700.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào: Điểm a, c, g khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trần M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trần M 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 01/5/2023.

  2. Căn cứ vào: Điểm a, c khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T1 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 01/5/2023.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuyên:
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 kìm cộng lực dài 85cm; 01 đoạn khung kim loại bị cắt rời; 01 đoạn dây thừng đầu có 01 móc sắt dài khoảng 15 m.
    • - Tịch thu, nộp ngân sách Nhà Nước: 01 Iphone 6 Plus màu bạc, số Imei 354393068980573, bị nứt kính màn hình.
    • (Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 08 tháng 11 năm 2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận T và Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê).
    • - Tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án đối với số tiền 5.000.000 đồng gia đình bị cáo Trần Văn T1 nộp theo biên lai thu tiền số 0000867 ngày 10/10/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Thanh Khê và số tiền 3.000.000 đồng gia đình bị cáo Nguyễn Trần M nộp theo biên lai thu tiền số 0000890 ngày 08/11/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Thanh Khê.
  4. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 586, 587, 589 Bộ luật Dân sự:
    • - Buộc bị cáo Nguyễn Trần M, Trần Văn T1 liên đới bồi thường cho Công ty TNHH MTV P3 số tiền 33.000.000 đồng, chia phần mỗi bị cáo bồi thường 16.500.000 đồng.
    • - Buộc bị cáo Nguyễn Trần M, Trần Văn T1 liên đới bồi thường cho Công ty TNHH X số tiền 5.000.000 đồng, chia phần mỗi bị cáo bồi thường 2.500.000 đồng.
    • - Buộc bị cáo Nguyễn Trần M bồi thường cho Công ty TNHH P3 số tiền 9.200.000 đồng.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  5. Về án phí: Căn cứ vào Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về việc “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án” của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
    • - Bị cáo Nguyễn Trần M, Trần Văn T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
    • - Bị cáo Nguyễn Trần M phải chịu 1.260.000 đồng (Một triệu, hai trăm sáu mươi ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
    • - Bị cáo Trần Văn T1 phải chịu 700.000 đồng (Bảy trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  6. Án xử sơ thẩm công khai, báo cho bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Q. Thanh Khê;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. Đà Nẵng;
  • - Cơ quan điều tra Công an quận Thanh Khê;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự CATP. Đà Nẵng;
  • - Nhà tạm giữ Công an quận Thanh Khê;
  • - Hòa sơn
  • - Trại tạm giam Công an Tp Đà Nẵng;
  • - Tòa án nhân dân TP. Đà Nẵng;
  • - Sở tư pháp TP. Đà Nẵng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Ngọc Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 145/2023/HS-ST ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 145/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger