Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH TRÀ VINH

Bản án số: 145/2023/DSST

Ngày 27/12/2023

Về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất

(ranh đất)”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Sơn Thị Hồng Nhân
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Thi Thị Thanh Trúc
2. Bà Trần Thanh Duyên

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Hậu, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Phúc Đức, Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 02/2022/TLST-DS ngày 04 tháng 10 năm 2022 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất (ranh đất)” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 168/2023/QĐXXST-DS, ngày 28 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Minh H, sinh năm 1979
    Địa chỉ: Số C P, khóm D, phường A, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
    Ông Nguyễn Minh H có mặt tại Tòa án nhân dân Thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.
  • - Bị đơn: Ông Phạm Văn Â, sinh năm 1970 (có mặt)
    Địa chỉ: Ấp V, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
    Ông Phạm Văn  có mặt tại Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.
  • - Người có quyền lợi và quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1947 (vắng mặt)
    2. Bà Phan Nguyệt Diễm H2, sinh năm 1979
    3. Bà Nguyễn Minh T, sinh năm 2006

Người đại diện hợp pháp của bà Phan Nguyệt Diễm H2, bà Nguyễn Minh T: Ông Nguyễn Minh H, sinh năm 1979 là đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 26/09/2022)
Cùng địa chỉ: Số C P, khóm D, phường A, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.

  1. Bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1968 (có mặt)
    Bà Nguyễn Thị H3 có mặt tại Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.
  2. Bà Phạm Thanh H4, sinh năm 1992 (vắng mặt)
  3. Bà Phạm Thanh T1, sinh năm 1995 (vắng mặt)
    Cùng địa chỉ: Ấp V, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
  4. Bà Trần Diệp T2, sinh năm 1968 (có đơn xin giải quyết vắng mặt)
    Địa chỉ: Ấp V, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
  5. Bà Đặng Thị Hoàng V, sinh năm 1960
    Địa chỉ: Ấp V, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Người đại diện hợp pháp của bà Đặng Thị Hoàng V: Ông Trần Duy P, sinh năm 1987 là đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 21/11/2023) (có đơn xin giải quyết vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp V, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong đơn khởi kiện ngày 30 tháng 9 năm 2022, bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn ông Nguyễn Minh H trình bày:

Gia đình ông có thửa đất số 71, tờ bản đồ số 40, diện tích 4.278 m², loại đất chuyên trồng lúa nước, đất tọa lạc tại ấp V, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh và ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 22/9/2017. Giáp ranh thửa đất ông là thửa đất 70 do ông Phạm Văn  quản lý và sử dụng. Trong quá trình sử dụng đất ông và ông  có thỏa thuận trụ ranh, ông có cắm mấy trụ ranh tạm thời để nuôi tôm. Tuy nhiên thời gian sau này ông đo đạc lại thửa đất thì ông mới phát hiện diện tích đất thửa đất 71 còn thiếu nhiều so với diện tích ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và ông phát hiện gia đình ông Á có lấn chiếm diện tích đất khoảng 78,4 m² (thực đo là 75 m² ) thuộc 01 phần thửa 71 tờ bản đồ số 40. Do đó nay ông khởi kiện yêu cầu ông  trả lại diện tích đất là 75 m² thuộc 01 phần thửa 71 tờ bản đồ số 40, đất tọa lạc tại ấp V, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

- Theo bản tự khai ngày 12 tháng 9 năm 2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay bị đơn ông Phạm Văn  trình bày:

Ông có thửa đất số 71, tờ bản đồ số 40, diện tích 2259 m² giáp ranh với ông Nguyễn Minh H. Quá trình ông sử dụng đúng phần diện tích của thửa đất ông, thửa đất ông giáp với ông H có cặm trụ đá và hai bên đã sử dụng từ trước đến nay nên ông không có lấn đất như ông H trình bày.

Nay ông H yêu cầu ông trả lại diện tích thực đo là 75 m² ông không đồng ý vì ông không có lấn chiếm diện tích đất của ông H.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H3 trình bày: Bà thống nhất ý kiến của ông Phạm Văn Â, không đồng ý trả đất cho ông H.

Tại phiên tòa hôm nay:

  • - Nguyên đơn ông Nguyễn Minh H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn ông Phạm Văn  và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • - Vị Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự thực hiện theo các quy định tại các Điều 70,71, 73 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Về nội dung vụ án: Phía nguyên đơn cho rằng phần đất tranh chấp có diện tích 75 m² thuộc một phần thửa 71 tờ bản đồ số 40 mà nguyên đơn được cấp giấy chứng nhận QSDĐ vào ngày 22/9/2017. Tuy ông H và ông  xác nhận giữa 02 bên có thống nhất cắm trụ đá để xác định ranh giữa 02 thửa đất số 70 và 71, nhưng sau này ông H phát hiện diện tích đất của ông còn thiếu so với diện tích được cấp giấy và ông  có lấn chiếm gia đình ông diện tích đất khoảng 78,4 m² (thực đo là 75m²).

Xét thấy, theo công văn số: 544/CNHCT ngày 19/5/2023 của Chi nhánh Văn phòng ĐKĐĐ huyện C cung cấp kết quả khảo sát đo đạc thì phần đất tranh chấp 75m² (Phần D sơ đồ khu đất kèm theo công văn 544) thuộc thửa đất số 71 do nguyên đơn ông Nguyễn Minh H đứng tên QSDĐ.

Mặt khác, theo công văn số: 1125/CNHCT ngày 19/5/2023 của Chi nhánh Văn phòng ĐKĐĐ huyện C cung cấp thông tin về việc tăng, giảm diện tích đối với thửa đất số 71, 70 cụ thể như sau:

  1. Thửa đất số 71 thuộc QSD của nguyên đơn ông Nguyễn Minh H có diện tích thực đo 4.136m² (giảm 0,5m²) so với diện tích được chỉnh lý do được tính toán lại diện tích thửa đất;
  2. Thửa đất số 70 thuộc QSD của bị đơn ông Phạm Văn  có diện tích thực đo 2.114m² (giảm 82, 6m²) so với diện tích được chỉnh lý do khi chuyển đổi từ tài liệu đo đạc năm 1992 sang tài liệu đo đạc năm 2006 tính sai diện tích;

Cho nên công văn số: 544/CNHCT ngày 19/5/2023 của Chi nhánh Văn phòng ĐKĐĐ huyện C cung cấp kết quả khảo sát đo đạc xác định diện tích đất tranh chấp có diện tích thực đo 75 m² (Phần D sơ đồ khu đất kèm theo công văn 544) thuộc thửa đất số 71 do nguyên đơn ông Nguyễn Minh H đứng tên QSDĐ là có cơ sở, do đó đây là chứng cứ để giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 93 Bộ luật TTDS.

Phía bị đơn ông Phạm Văn  cho rằng ông và ông H đã thống nhất cắm trụ đá làm ranh với nhau, phần đất tranh chấp thuộc về bên thửa đất của ông nên ông không đồng ý trả, tuy nhiên ông  không đưa ra được bất kỳ chứng cứ nào để chứng minh cho lời trình bày của mình theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự, đồng thời ông không có yêu cầu hay tranh chấp đối với những thửa đất lân cận vì ông xác nhận đã có ranh và sử dụng ổn định.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị Hoàng V, bà Trần Diệp T2 có QSDĐ giáp với các thửa đất đang tranh chấp giữa nguyên đơn với bị đơn không yêu cầu hay tranh chấp đất và không có ý kiến trong vụ án này nên không xem xét

Từ những cơ sở nêu trên nhận thấy yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Minh H là có cơ sở chấp nhận.

  • - Áp dụng khoản 9 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 91, 93 Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 227, Điều 228 Bộ luật TTDS;
  • - Khoản 5 Điều 166, Điều 170, 203 Luật Đất đai 2013;
  • - Điều 175, Điều 176 Bộ luật dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Minh H yêu cầu bị đơn ông Phạm Văn  trả lại diện tích đất là 75 m² thuộc 01 phần thửa 71 tờ bản đồ số 40, đất tọa lạc tại ấp V, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh (Phần D sơ đồ khu đất kèm theo Công văn số 544/CNHCT ngày 19/5/2023 của Chi nhánh Văn phòng ĐKĐĐ huyện C).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và các căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Đối tượng tranh chấp trong vụ án là bất động sản (gồm quyền sử dụng đất tại xã H, huyện C) nên Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a và c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự

[1.2] Về quan hệ pháp luật của vụ án: Ông Nguyễn Minh H khởi kiện yêu cầu ông Phạm Văn  trả lại quyền sử dụng đất bị lấn chiếm. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là “Tranh chấp quyền sử dụng đất (ranh đất)” theo quy định tại khoản 9 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đã được cấp, tống đạt, thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án: bà Phạm Thanh H4, bà Phạm Thanh T1 vắng mặt không có lý do, bà Trần Diệp T2 và người đại diện theo ủy quyền của bà Đặng Thị Hoàng V là ông Trần Duy P có đơn xin giải quyết vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1 Điều 227 Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung vụ án: Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bên đương sự: Nguyên đơn ông Nguyễn Minh H yêu cầu ông Phạm văn Â1 trả lại diện tích 75 m² thuộc một phần thửa 71 cùng tờ bản đồ số 40, tài liệu đo đạc 2006.

Bị đơn ông Phạm Văn  cho rằng ông không có lấn đất của ông Nguyễn Minh H vì phần diện tích ranh đất giữa ông và ông H đã có ranh cắm sẵn và sử dụng từ đó đến nay.

Theo khoản 1 Điều 175 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Ranh giới giữa các bất động sản liền kề được xác lập theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”; Đối chiếu với quy định trên thì các bên không thỏa thuận được ranh giới với nhau nên căn cứ vào diện tích đất của thửa 70 và 71 đã được Ủy ban nhân dân dân huyện C đã cấp quyền sử dụng đất để xem xét giải quyết.

[2.1] Theo kết quả thẩm định và sơ đồ khu đất ngày 19/5/2023 thì phần diện tích được nguyên đơn xác định là 75 m² thuộc phần D (Điểm 12, 13, 15, 16) thuộc 01 phần thửa 71.

Phần D diện tích 75 m² có tứ cận như sau:

  • - Hướng Đông giáp phần E thuộc thửa 71, kích thước 0,74 m
  • - Hướng Tây giáp đường T, kích thước 0,41 m;
  • - Hướng Nam giáp phần F thuộc thửa 70 kích thước 158,39 m
  • - Hướng Bắc giáp phần B thuộc thửa 71 kích thước 158,21 m

Phần đất tranh chấp không có tài sản gắn liền với đất.

Tại Công văn số 1125/CNHCT ngày 29 tháng 11 năm 2023 thì tổng diện tích thực tế thửa 71 của ông Nguyễn Minh H là 4136 m² (Trong đó phần B diện tích 3999 m²; Phần C diện tích 60 m²; Phần D diện tích 75 m² và phần E diện tích 2 m²). Giảm 0,5 m so với diện tích được chỉnh lý ở trang 3 do tính toán lại diện tích thửa đất. Thửa đất 70 của ông Phạm Văn  có diện tích 2114 m² (Trong đó: Phần F diện tích 2084 m² và phần I diện tích 30 m²). Giảm 82,6 m² so với diện tích được chỉnh lý ở trang 3 do khi chuyển đổi từ tài liệu đo đạc năm 1992 sang tài liệu đo đạc năm 2006 tính sai diện tích.

Như vậy theo kết quả thẩm định do Văn phòng đăng ký đất đai cung cấp thì phần đất tranh chấp thuộc thửa 71 là phần đất của ông Nguyễn Minh H đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Từ các phân tích trên Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Minh H yêu cầu ông Phạm Văn  trả lại diện tích 75 m² theo sơ đồ khu đất đính kèm Công văn số 544/CNHCT ngày 19 tháng 5 năm 2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C.

[4] Đối với phần A có diện tích 186 m² thuộc thửa 140 do bà Đặng Thị Hoàng V đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, phần G (14 m²) thuộc 01 phần thửa 84 và phần H (22 m²) thuộc 01 phần thửa 83 do bà Trần Diệp T2 đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng bà Đặng Thị Hoàng V và bà Trần Diệp T2 không có tranh chấp yêu cầu đối với phần diện tích đất trên nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[5] Xét đề nghị của V1 đại diện viện kiểm sát là có cơ sở chấp nhận.

[6] Về án phí: Ông Phạm Văn  phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Về chi phí tố tụng: Ông Phạm Văn  phải chịu chi phí thẩm định, định giá theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39; Điều 91; Điều 92; Điều 147; Điều 165; Điều 166 và Điều 227 và khoản 1 Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ 166 và Điều 203 Luật Đất đai năm 2013;

Căn cứ Điều 175 và Điều 176 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Minh H, buộc ông Phạm Văn  trả lại 75 m² thuộc phần D (Đ, 13, 15, 16) thuộc 01 phần thửa 71.

Phần D diện tích 75 m² có tứ cận như sau:

  • - Hướng Đông giáp phần E thuộc thửa 71, kích thước 0,74 m
  • - Hướng Tây giáp đường T, kích thước 0,41 m;
  • - Hướng Nam giáp phần F thuộc thửa 70 kích thước 158,39 m
  • - Hướng Bắc giáp phần B thuộc thửa 71 kích thước 158,21 m
  • (Có sơ đồ bản vẽ kèm theo).

3. Về án phí: Ông Phạm Văn  chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về chi phí thẩm định là 10.976.668 đồng, ông Nguyễn Minh H đã nộp tạm ứng xong, buộc ông Phạm Văn  nộp lại 10.976.668 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành để hoàn trả cho ông Nguyễn Minh H.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú của đương sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - THADS huyện Châu Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Sơn Thị Hồng Nhân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 145/2023/DSST ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp quyền sử dụng đất (ranh đất)

  • Số bản án: 145/2023/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất (ranh đất)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/12/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Minh H, buộc ông Phạm Văn  trả lại 75 m2 thuộc phần D (Điểm 12, 13, 15, 16) thuộc 01 phần thửa 71.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger