|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số:145/2024/HS - ST
Ngày: 25/9/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy
Các Hội thẩm nhân dân:+ Ông Đinh Văn Cương
+ Bà Nguyễn Thị Hiền
Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Phương – là Thư ký Toà án nhân dân huyện Lâm Hà.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tham gia phiên tòa: ông Mai Trường Trinh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng, Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 140/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:145/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Đỗ Văn V, sinh năm 1986, tại: Lâm Đồng; Nơi ĐKNKTT và nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hoá: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn H và bà Đinh Thị Bích N; có vợ là Võ Thị Thu H1, có 02 con sinh năm 2007 và 2015; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 22/3/2012 bị Ủy ban nhân dân huyện L áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 24 tháng; ngày 26/4/2018, Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 03 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, chấp hành xong ngày 30/4/2020; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/5/2024, hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện L, có mặt tại phiên tòa;
- Nguyễn Bá Đ, sinh năm 1979, tại:Thái Bình; Nơi ĐKNKTT và nơi cư trú: thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Bá D và bà Bùi Thị R (cả hai đều đã chết); có vợ là Nguyễn Thị Thu Đ1, có 02 con sinh năm 2000 và 2007; tiền án: ngày 11/11/2015, Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, ngày 05/9/2020 Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, chấp hành xong ngày 22/7/2022, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/5/2024, hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện L, có mặt tại phiên tòa;
Bị hại:
- - Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1983. Địa chỉ: thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt
- - Anh Đỗ Khắc T1, sinh năm 1992. Địa chỉ: thôn L, xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xin vắng mặt
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Bà Trần Thị Như N1, sinh năm 1983. Địa chỉ: TDP B, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xin vắng mặt
- - Ông Nguyễn Văn V1, sinh năm 1982. Địa chỉ: TDP T, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt
- - Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1970. Địa chỉ: thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt
- - Chị Đỗ Thị Thu P, sinh năm 1998. Địa chỉ: thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ ngày 30/4/2024, Nguyễn Bá Đảm Đ2 ở nhà tại thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng thì Đỗ Văn V điều khiển xe mô tô nhãn hiệu max, màu đỏ đen không gắn biển số đến chơi. Tại đây, do không có tiền mua ma túy sử dụng nên V và Đ rủ nhau đi tìm nhà dân sơ hở để lấy trộm tài sản. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, V điều khiển xe mô tô chở theo Đ đi đến địa bàn xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; khi đi ngang qua nhà kho của gia đình ông Đỗ Khắc T2, thuộc thôn R, xã P thì phát hiện có một cuộn lưới B40 loại mạ kẽm đang để ở sân. Thấy không có người trông coi nên cả hai đi vào sân nhà kho, V phát hiện có camera nên dùng giẻ lau ném lên che camera rồi cả hai khiêng cuộn lưới đặt lên xe mô tô. Lúc này, V điều khiển xe chở cuộn lưới ở giữa, Đ ngồi phía sau rồi cùng nhau đi đến cửa hàng phế liệu của bà Nguyễn Thị L, tại thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh lâm Đồng để bán. Tại đây, Đ và V đặt lên cân thì cuộn lưới có trọng lượng 98kg; bà L đồng ý mua cuộn lưới với giá 12.000đồng/kg, thành tiền là 1.176.000 đồng. Số tiền này, V lấy 676.000 đồng, Đ lấy 500.000 đồng rồi cả hai điều khiển xe đi về.
Vào ngày 12/5/2024, V điều khiển xe mô tô nhãn hiệu max màu đỏ đen không gắn biển số chở theo Đ đi đến địa bàn xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày thì cả hai đi ngang qua nhà vườn của bà Nguyễn Thị T thuộc thôn P, xã P thì nhìn thấy nhà của bà T khóa cửa bên ngoài. Biết không có ai trông coi nên Đ và V thống nhất sẽ phá khóa cửa căn nhà rồi đột nhập vào trong chiếm đoạt tài sản. Lúc này, V sử dụng một thanh sắt loại sắt xoắn dài 44,5cm và 01 mỏ lết màu trắng có chiều dài 30cm mang theo trước đó để phá khóa, còn Đ đứng ngoài cảnh giới. Sau khi phá được khóa, V mở cửa đi vào trong nhà thì phát hiện có 01 điện thoại di động hiệu vivo màu xanh đang đặt trên tủ gỗ để sạc pin và 01 laptop hiệu HP màu trắng bạc đang cất trong tủ quần áo thì V lấy điện thoại để vào trong túi quần và lấy laptop giấu vào trong người rồi đi ra ngoài. Khi gặp Đ, V nói cho Đ biết đã lấy trộm được điện thoại và laptop. Lúc này, V rủ đảm đi tìm tiệm điện thoại để bán những tài sản này. Sau đó, V điều khiển xe mô tô của V chở Đ đến cửa hàng M bán chiếc laptop cho ông Nguyễn Văn V1 với giá 4.000.000đồng. Sau khi nhận đủ tiền, V và Đ chia nhau mỗi người 2.000.000đồng; đến khoảng 17 giờ cùng ngày, V tiếp tục chở Đ đi đến cửa hàng sửa chữa điện thoại di động Ngọc T3 bán chiếc điện thoại cho bà Trần Thị Như N1 với giá 800.000đồng. Số tiền bán điện thoại có được, V và Đ chia nhau mỗi người 400.000đồng. Đồng thời cả hai đã sử dụng hết số tiền trên vào việc mua ma túy để sử dụng. Đến ngày 15/5/2024 Đỗ Văn V và Nguyễn Bá Đ đã đến cơ quan Công an đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 USB bên trong chứa đoạn video thời lượng 05 phút 04 giây bắt đầu từ 16 giờ 09 phút 49 giây ngày 12/5/2024; 01 máy tính laptop hiệu HP màu xám; 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y72; 01 xe mô tô hiệu max màu đỏ trắng biển kiểm soát 49D1-047.70; 01 cây sắt xoắn có đường kính 02cm, chiều dài 44cm; 01 mỏ lết dài 30cm, đầu rộng nhất 7,7cm, chỗ hẹp nhất 03cm; 01 biên nhận thanh toán kiêm phiếu giao hàng; 01 biên lai thu tiền; 01 USB bên trong chứa 01 đoạn video thời lượng 01 phút 46 giây bắt đầu từ 17 giờ 13 phút 15 giây ngày 12/5/2024
Tại bản kết luận định giá tài sản số 41/KLĐG ngày 16/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y72 màu xanh hồng; 01 máy tính xách tay hiệu HP, core i5 màu xám có giá trị 14.020.000 đồng; 01 cuộn lưới B40 cân nặng 98kg có giá trị 1.852.200đồng. Tộng cộng có giá trị là 15.872.200đồng.
Tại bản cáo trạng số 151/CT-VKS ngày 05/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà để xét xử bị can Đỗ Văn V về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự và xét xử bị can Nguyễn Bá Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng thực hành quyền công tố luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Đỗ Văn V về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự và bị cáo Nguyễn Bá Đ về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Đồng thời, về trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đỗ Văn V từ 06 đến 09 tháng tù.
- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn bá Đ từ 30 đến 36 tháng tù
Về vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy 01 cây sắt xoắn có đường kính 02cm, chiều dài 44cm; 01 mỏ lết dài 30cm, đầu rộng nhất 7,7cm, chỗ hẹp nhất 03cm; riêng đối với chiếc xe máy đề nghị giao cho cơ quan Công an tiếp tục xác minh làm rõ nguồn gốc và xử lý theo quy định; về án phí đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo xác định quá trình điều tra bị cáo không bị ép cung, dùng nhục hình và lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra là đúng với diễn biến sự việc xảy ra. Bị cáo đồng ý với cáo trạng truy tố và không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì. Bị hại vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến gì và không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo và tình tiết định khung hình phạt:
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận vào khoảng 13 giờ ngày 30/4/2024, tại thôn R, xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng Đỗ Văn V và Nguyễn Bá Đ đã thống nhất bàn bạc với nhau từ trước lén lút bí mật lấy trộm 01 cuộn lưới B40 nặng 98 kg của ông Đỗ Khắc T2 được định giá có giá trị là 1.852.200đồng. Tiếp đến, vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 12/5/2024, tại thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng, Đỗ Văn V và Nguyễn Bá Đ lại lén lút lấy trộm một điện thoại di động hiệu VivoY72 màu xanh hồng và 01 máy tính xách tay hiệu HP màu bạc của bà Nguyễn Thị T được định giá có giá trị là 14.020.000đồng.
Lời khai nhận tội của các bị cáo về hành vi các bị cáo đã thực hiện phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những tài liệu chứng cứ khác được phản ánh trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Đỗ Văn V phạm tội: “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự và bị cáo Nguyễn Bá Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự theo cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét thấy, các bị cáo là người có đầy đủ nhận thức, các bị cáo biết rất rõ việc lợi dụng chủ nhà đi vắng, tài sản của người bị hại để sơ hở, không có sự cảnh giác để lén lút chiếm đoạt với mục đích đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân là hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo là hành vi trái pháp luật, gây nên sự nghi ngờ mất đoàn kết trong quần chúng nhân dân, đồng thời tác động xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện.
[4] Xét vai trò đồng phạm của các bị cáo: các bị cáo có sự thống nhất bàn bạc với nhau từ trước thể hiện qua vai trò của từng bị cáo cụ thể như sau:
Bị cáo V là người trực tiếp điều khiển xe chở Đ đi tìm nhà dân sơ hở để lấy trộm tài sản, khi phát hiện cuộn lưới B40 đang để trong sân nhà ông T2, V đã dùng giẻ lau ném lên che camera rồi cả hai khiêng cuộn lưới đặt lên yên xe. Lần thứ hai V cũng là người chở Đ và khi phát hiện nhà bà T không có người trông coi thì V là người phá khóa cửa vào nhà và cũng là người trực tiếp lấy trộm điện thoại và laptop còn Đ là người đứng cảnh giới. Sau khi trộm cắp được tài sản thì V chở Đ đi bán và cùng nhau chia tiền tiêu xài. Như vậy V là người có vai trò chính thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, Đ có vai trò giúp sức tích cực.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: xét thấy các bị cáo có nhân thân không tốt, bị cáo V đã từng bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt xử phạt 03 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù vừa mới được xóa án tích bị cáo đã tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nhưng bị cáo V thực hiện hành vi phạm tội lần này không thuộc trường hợp áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự. Còn bị cáo Đ, năm 2015 bị Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà xử phạt 02 năm tù về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, năm 2020 bị Tòa án nhân huyện L xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/7/2022 chưa được xóa án tích bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 của Bộ luật Hình sự, thuộc trường hợp áp dụng tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Đồng thời bị cáo Đ phạm tội hai lần nên áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Ngoài ra, sau khi phạm tội các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và tự đến cơ quan công an đầu thú về hành vi phạm tội của mình; tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo đồng thời gia đình các bị cáo cũng đã bồi thường khắc phục hậu quả cho những người liên quan nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý thể hiện sự coi thường pháp luật. Trong vụ án này, bị cáo V có vai trò chính nhưng lại không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự còn bị cáo Đ có vai trò giúp sức nhưng lại bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đồng thời thuộc trường hợp áp dụng định khung hình phạt. Vì vậy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có cơ hội cải tạo, rèn luyện trở thành người công dân tốt, sống biết tuân thủ pháp luật.
Đối với việc Đỗ Văn V tham gia lấy trộm cuộn lưới B40 cùng với Nguyễn Bá Đ vào ngày 30/4/2024 nhưng chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Quyết định xử lý hành chính đối với V về hành vi này. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Đối với bà Trần Thị L1 là người mua cuộn lưới B40; bà Trần Thị Như N1 là người mua điện thoại di động Vivo Y72 màu xanh hồng và ông Nguyễn Văn V1 là người mua laptop hiệu HP của các bị cáo nhưng khi mua họ không biết tài sản do các bị cáo trộm cắp mà có nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với chị Đỗ Thị Thu P cho bị cáo V mượn xe mô tô hiệu max để đi trộm cắp nhưng khi cho mượn chị P biết V sử dụng xe vào mục đích phạm tội nên cơ quan điều tra không xem xét, xử lý. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về trách nhiệm dân sự: bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xác nhận đã nhận lại tài sản và nhận bồi thường xong, không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 USB bên trong chứa đoạn video thời lượng 05 phút 04 giây bắt đầu từ 16 giờ 09 phút 49 giây ngày 12/5/2024; 01 biên nhận thanh toán kiêm phiếu giao hàng; 01 biên lai thu tiền; 01 USB bên trong chứa 01 đoạn video thời lượng 01 phút 46 giây bắt đầu từ 17 giờ 13 phút 15 giây ngày 12/5/2024. Đây là chứng cứ của vụ án nên tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
Đối với 01 máy tính laptop hiệu HP màu xám; 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y72; quá trình điều tra thì cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 01 cây sắt xoắn có đường kính 02cm, chiều dài 44cm; 01 mỏ lết dài 30cm, đầu rộng nhất 7,7cm, chỗ hẹp nhất 03cm; đây là dụng cụ bị cáo dùng thực hiện hành vi phạm tội không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu max biển kiểm soát 49D1- 047.70, hiện cơ quan điều tra chưa xác định được rõ nguồn gốc nên tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý sau.
[10] Về án phí: Buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố các bị cáo Đỗ Văn V và Nguyễn Bá Đ phạm tội: “Trộm cắp tài sản".
-
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: bị cáo Đỗ Văn V 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/5/2024.
-
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Bá Đ 27 (hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/5/2024.
-
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
-
Về xử lý vật chứng: áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 cây sắt xoắn có đường kính 02cm, chiều dài 44cm; 01 mỏ lết dài 30cm, đầu rộng nhất 7,7cm, chỗ hẹp nhất 03cm (có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 06/9/2024 tại chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Hà).
Giao cho cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Lâm Đồng tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ nguồn gốc 01 xe mô tô nhãn hiệu max biển kiểm soát 49D1- 047.70 và xử lý theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp và quản lý án phí, lệ phí Tòa án, buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (25/9/2024), riêng bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thúy |
Bản án số 145/2024/HS - ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 145/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Bá Đ cùng đp trộm cắp tài sản
