Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 145/2024/HS-ST

Ngày 17-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn;
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Triệu Đức Tươi và bà Ngô Thị Thúy.
  • Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Vũ Hoàng Yến, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bình Nguyên, Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 146/2024/TLST-HS ngày 29/5/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 136/2024/QĐXXST-HS ngày 06/6/2024, đối với bị cáo:

NGUYỄN VĂN LUẬN, tên gọi khác: Không; sinh ngày 26 tháng 3 năm 1995, tại Thái Nguyên; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Xóm D, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị T; chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T từ ngày 19/4/2024 đến nay, có mặt.

Người chứng kiến: Ông Nguyễn Minh C, sinh năm 1961; địa chỉ: Tổ 1, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 07 giờ 20 phút ngày 19/4/2024, Tổ công tác của Công an phường T, thành phố T làm nhiệm vụ tại khu vực thuộc tổ I, phường T, thành phố T thì phát hiện, bắt quả tang, thu giữ từ lòng bàn tay phải của Nguyễn Văn L1 02 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng. L1 khai nhận đó là ma túy H, L1 mua để sử dụng cho bản thân.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng: Toàn bộ số chất bột màu trắng thu giữ của L1 có khối lượng 0,348 gam, lấy toàn bộ số chất bột màu trắng đưa vào bì niêm phong ký hiệu L1 gửi giám định.

Tại Bản kết luận giám định số 552/KL-KTHS ngày 28/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Chất bột màu trắng trong bì ký hiệu L1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine; khối lượng thu giữ ban đầu là 0,348 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn L1 khai nhận: Khoảng 06 giờ 30 phút, ngày 19/4/2024, L1 đi bộ từ chỗ làm thuộc tổ A phường T, thành phố T đến khu vực đường V, thuộc tổ I, phường T, thành phố T mục đích tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. L1 gặp và mua của người đàn ông không quen biết 02 gói ma túy Heroin với giá 400.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, L1 cầm gói ma túy trong lòng bàn tay phải rồi đi bộ tìm nơi sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác của Công an phường T phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Vật chứng của vụ án gồm: 01 bì niêm phong ký hiệu L1 bên trong chứa ma túy loại Heroine và vỏ bao gói mẫu hoàn lại sau giám định; 01 bì niêm phong ký hiệu L2 bên trong chứa vỏ bao thu giữ ban đầu. Hiện được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.

Quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo và người tham gia tố tụng khác trong vụ án, không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Phòng K Công an tỉnh T và việc xử lý vật chứng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên.

Bản cáo trạng số 153/CT-VKS-TPTN ngày 27/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố Nguyễn Văn L1, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn L1 khai nhận rõ hành vi phạm tội như lời khai tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng mô tả.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên giữ nguyên bản cáo trạng số 153/CT-VKS-TPTN ngày 27/5/2024, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm các vấn đề cụ thể sau:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L1 phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 18 đến 21 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/4/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định được niêm phong trong bì niêm phong ký hiệu L1, L2.
  4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo Nguyễn Văn L1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo có lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất, để bị cáo sớm có cơ hội trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo Nguyễn Văn L1: Trên cơ sở kết quả điều tra và tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Hồi 7 giờ 20 phút ngày 19/4/2024, tại khu vực tổ I, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Văn L1 có hành vi tàng trữ trái phép 0,348 gam Heroine, mục đích sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an phường T, T, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn L1 bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, là đúng người, đúng tội có căn cứ pháp luật.

Điều luật có nội dung:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm;

c) Heroine, ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”

[3] Bản cáo trạng số 153/CT-VKS-TPTN ngày 27/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố Nguyễn Văn L1 theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ.

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, là mối hiểm hoạ cho cộng đồng, là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương.

[5] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo tàng trữ ma túy nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân, không có mục đích bán kiếm lời. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đó là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Khi lượng hình, xét thấy bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, nên xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật

[7] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy, bị cáo là người nghiện ma tuý, không có tài sản, không có thu nhập ổn định, tàng trữ ma tuý nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, không nhằm mục đích bán kiếm lời. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Về vật chứng của vụ án: Đối với số ma tuý còn lại sau giám định được niêm phong trong bì ký hiệu L1, L2 là vật chứng của vụ án cấm tàng trữ, lưu hành, cần tịch thu, tiêu huỷ.

[9] Về nguồn gốc số ma túy thu giữ, L1 khai đã mua của người đàn ông không quen biết tại khu vực phường T, thành phố T. Quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra không có cơ sở điều tra làm rõ để xử lý, xét thấy là phù hợp với quy định của pháp luật.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L1 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/4/2024.
  3. Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự. Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
  4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu tiêu huỷ: 01 bì niêm phong ký hiệu L1 bên trong chứa 0,329 gam ma túy, loại Heroine và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định; 01 bì niêm phong ký hiệu L2 bên trong chứa vỏ bao thu giữ ban đầu.

    Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 177 ngày 05/6/2024 giữa Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.

  5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2016 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn L1 phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp vào ngân sách Nhà nước.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự; người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên
  • - VKSND TP. Thái Nguyên;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Thái Nguyên;
  • - Công an TP. Thái Nguyên;
  • - Chi cục THADS TP. Thái Nguyên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ





Nguyễn Thị Thanh Nhàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 145/2024/HS-ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 145/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger