|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG Bản án số: 145/2024/HS-PT Ngày 24 tháng 9 năm 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Ngọc Giao và ông Nguyễn Hoàng Thám
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mộng Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Phạm Huỳnh Ngọc Thi – Kiểm sát viên
Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 200/2024/TLPT-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Nhan Chí T và đồng phạm, do có kháng cáo của các bị cáo Nhan Chí T, bị cáo N Bé T, bị hại Lê Thái N1, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2024/HS-ST ngày 01 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang.
Bị cáo có kháng cáo:
- Nhan Chí T, sinh ngày 21/3/1986, tại tỉnh An Giang; nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: Tổ A, ấp A, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Nhan Văn E và bà Bạch Thị Thu C; vợ Nguyễn Thị Kim A, có 03 người con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Tại bản án hình sự số 68/2013/HS.ST ngày 21/11/2013, bị Tòa án nhân dân huyện (nay là thị xã ) T, tỉnh An Giang xử phạt 06 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, đã chấp hành xong vào ngày 17/5/2014; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- N4, sinh ngày 18/02/1988, tại tỉnh An Giang; nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: Tổ A, ấp A, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Chạy xe đò; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Nhan Văn E và bà Bạch Thị Thu C; vợ Lê Thị V, có 01 người con; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Bị cáo không kháng cáo, không bị kháng nghị nhưng được Tòa án triệu tập:
- Trần Thanh S (tên gọi khác H) sinh ngày 01/12/2004, tại tỉnh An Giang; nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: tổ A, ấp A, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Chạy xe đò; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Đạo
phật; Quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Trần Văn K và bà Lê Thị Mỹ H1; tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Tại bản án hình sự số 23/2022/HS-ST ngày 23/6/2022, bị Tòa án Tòa án nhân dân huyện (nay là thị xã) Tịnh Biên xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm về tội “Trộm cắp tài sản”; Tại bản án hình sự số 49/2023/HS-ST ngày 26/9/2023, bị Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên xử phạt 01 năm 06 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt với bản án hình sự số 23/2022/HS-ST ngày 23/6/2022, buộc chấp hành hình phạt là 02 năm tù, bị cáo đang chấp hành hình phạt tù, có mặt.
- Trần Ngọc K1, (tên gọi khác: V1), sinh ngày 06/8/2006, tại tỉnh An Giang; nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: tổ A, ấp A, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Trần Ngọc H2 và bà Lê Thị T1; Tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại, vắng mặt.
Bị hại có kháng cáo:
- Lê Thái N1, sinh năm 1989; nơi cư trú: Tổ A, ấp A, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang (có mặt).
- Nhan Văn E, sinh năm 1959; nơi cư trú: Tổ A, ấp A, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang (có mặt).
- Nhan Chí T, sinh ngày 21/3/1986, tại tỉnh An Giang; nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: tổ A, ấp A, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang (có mặt).
Trong vụ án, còn có những người tham gia tố tụng khác nhưng không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 16/10/2022, gia đình ông Nhan Văn E gồm: Bà Bạch Thị Thu C, Nhan Chí T, N Bé T, Nhan Minh T2, Nhan Thị Ý N2, Nguyễn Thị Kim A, Lê Thị V, Trần Thanh L và Bạch Phú Q tổ chức sinh nhật cho con của Chí T tại quán H3 thuộc tổ A, ấp A, xã A, huyện T (nay là thị xã T), đang uống bia và hát Karaoke. Cùng lúc này, Trần Thanh S (Hô), Trần Văn N3 (S), Trần Ngọc K1 (V), Trần Thanh Đ và Nguyễn Anh K2 cũng tổ chức uống rượu, bia và hát Karaoke tại quán M đối diện quán H3. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, anh Lê Thái N1 sau khi đi uống rượu bia về nằm ngủ cạnh chỗ S, N3, K1, Đ và K2, thì bực tức việc bên quán H3 hát karaoke lớn tiếng anh N1 không ngủ được, nên anh N1 cầm 01 cây dao quéo chạy sang quán Hữu Thiện chém trúng bàn uống bia, rồi xảy ra cự cãi giữa gia đình Chí T với anh N1, thì N3 đến can ngăn kéo anh N1 về quán M.
Sau đó, anh N1 tiếp tục chạy qua quán H3 cự cãi và đánh nhau với Minh T2 và Chí T bằng tay, được chị L đến can ngăn kéo Minh T2 vào trong nhà, còn Bé T2 nhìn thấy đánh nhau liền chạy vào nhà lấy 01 cây búa chạy ra từ phía sau chém 01 cái trúng vào nách trái của anh N1 gây thương tích, N3 thấy anh N1 bị
chém liền chạy đến ôm vật ngã Bé T2 và dùng tay đánh vào mặt Bé T2, mục đích để can ngăn không cho Bé T2 chém anh N1, thì anh N1 chụp cán búa giằng co với Bé T2, nên Chí T chạy vào nhà lấy 01 cây dao tự chế chạy ra, đứng lệch về phía bên phải trước mặt anh N1 (cách khoảng 01m) chém trúng vào vai phải và người của anh N1 gây thương tích. Thấy Chí T tiếp tục cầm dao chém anh N1, K1 liền nhặt 02 cục gạch nung chạy đến ném 01 cục gạch trên tay phải vào hướng C nhưng không trúng, K1 tiếp tục cầm cục gạch trên tay trái đánh trúng vào mặt Bé T gây thương tích, anh N1 bỏ chạy khoảng 10m thì Chí T và Bé T rượt đuổi theo, anh N1 và Bé T giằng co, lôi kéo nhau đến gần gốc cây me anh N1 té xuống đường trong tư thế nằm ngửa, Chí T chạy đến dùng dao tự chế chém trúng vào mặt anh N1 gây thương tích.
Thấy anh N1 bị đánh, S chạy vào quán M lấy 01 cây dao mác vót (loại dao vót đũa) dài 55cm chạy đến chém 01 cái trúng vào ngực trái của Chí T gây thương tích, bị chém Chí T cầm dao đuổi chém S. Lúc này, ông E ở trong nhà thấy đánh nhau liền cầm khúc gỗ đi ra, do S cầm dao chạy lùi đụng trúng ông E, thì S cầm dao đâm trúng vùng bụng trái của ông E, ông E xoay người đưa tay đỡ nên trúng vào tay phải gây thương tích. Cùng lúc này, bà C, chị Kim A, chị V và Minh T2 cùng mọi người xung quanh đến can ngăn, rồi đưa anh N1, Chí T, Bé T3, ông E và Minh T2 đến Bệnh viện Đa khoa khu vực tỉnh An Giang điều trị thương tích.
Anh Lê Thái N1, Nhan Chí T, N Bé T, anh Nhan Minh T2 và ông Nhan Văn E có đơn yêu cầu xử lý hình sự. Riêng, Trần Thanh S có đơn không yêu cầu xử lý hình sự, từ chối giám định thương tích..
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 47/23/TgT ngày 28/02/2023, của Trung tâm pháp y tỉnh A kết luận thương tích đối với Lê Thái N1: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên hiện tại là: 17 % (Mười bảy phần trăm).
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 54/23/TgT ngày 18/01/2023, của Trung tâm pháp y tỉnh A kết luận thương tích đối với Nhan Bé T2: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là: 02% (Không hai phần trăm).
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 57/23/TgT ngày 18/01/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh A kết luận thương tích đối với Nhan Chí T: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên là: 02% (Không hai phần trăm).
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 55/23/TgT ngày 18/01/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh A kết luận thương tích đối với Nhan Văn E: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên: 03% (Không ba phần trăm), cơ chế hình thành thương tích do vật sắc gây nên.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2024/HS-ST ngày 01 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên đã quyết định: Tuyên bố các bị cáo Nhan Chí T, Nhan B, Trần Thanh S (Hô) và Trần Ngọc K1 (V2) phạm tội “Cố ý gây thương tích”
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 17, Điều 38, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nhan Chí T 02 năm 06 tháng tù và xử phạt bị cáo N Bé T 02 năm tù.
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 91; Điều 98 và khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Trần Thanh S 01 năm tù. Tổng hợp hình phạt của bản án này và bản án 49/2023/HS-ST ngày 26 tháng 09 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên buộc bị cáo Trần Thanh S phải chấp hành hình phạt chung là 03 năm tù.
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 98 và khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Trần Ngọc K1 06 tháng tù.
Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 8/7/2024 và ngày 09/7/2024, bị cáo Nhan Chí T, bị cáo N Bé T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo. Ngày 08/7/2024 bị hại Lê Thái N1 làm đơn kháng cáo xin cho bị cáo Chí T và Bé T được hưởng án treo hoặc giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 11/7/2024, bị hại Nhan Văn E và Nhan Chí T có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo Trần Thanh S và Trần Ngọc K1.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nhan Chí T, bị cáo Nhan B T và bị hại Lê Thái N1 vẫn giữ yêu cầu kháng cáo; bị hại Nhan Văn E, Nhan Chí T có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo Trần Thanh S và Trần Ngọc K1 và N Bé T yêu cầu xem xét miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo Trần Thanh S và Trần Ngọc K1.
Đại diện Viện kiểm sát thực hiện quyền công tố nhà nước tại phiên tòa phát biểu quan điểm về vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ khoản 2 Điều 155 và Điều 359 Bộ luật Tố tụng hình sự; hủy một phần bản án hình sự sơ thẩm số 45/2024/HS-ST ngày 01 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên và đình chỉ vụ án đối với bị cáo Trần Thanh S và Trần Ngọc K1.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nhan Chí T, Nhan B; áp dụng điểm b khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 54; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017; chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho mỗi bị cáo Nhan Chí T, N Bé T từ 6 tháng đến 01 năm tù; các phần còn lại giữ y bản án sơ thẩm.
Bị cáo Nhan Chí T, bị cáo Nhan B T phát biểu ý kiến: Các bị cáo có con còn nhỏ, lao động chính trong gia đình, cha mẹ già không ai chăm sóc; các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại theo quyết định của bản án sơ thẩm; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, xin Hội đồng xét xử cho các bị cáo hưởng án treo.
Bị hại Lê Thái N1: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo Chí T, Bé T3.
Bị hại Nhan Văn E: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo Chí T, B, cho các bị cáo hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo Nhan Chí T, Nhan B T và bị hại Lê Thái N1 hợp lệ, được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Đối với các bị cáo Trần Thanh S và Trần Ngọc K1 mặc dù không kháng cáo nhưng được bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự nên cần thiết xem xét lại phần quyết định của bản án không bị kháng cáo, kháng nghị.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Về nội dung: Quá trình xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của những người bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan, đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Có đầy đủ căn cứ để xác định:
Khoảng 21 giờ ngày 16/10/2022, anh N1 cho rằng gia đình bị cáo Chí T hát karaoke gây ồn ào nên xảy ra cự cãi và đánh nhau. Trong lúc đánh nhau, các bị cáo đã sử dụng hung khí nguy hiểm (búa, dao tự chế, gạch...) để gây thương tích cho nhau. Cụ thể: Nhan Chí T dùng dao tự chế chém vào vai, mặt của Lê Thái N1; Nhan Bé T dùng búa chém vào nách của Lê Thái N1; bị cáo Trần Thanh S dùng dao mác vót chém trúng ngực trái của Nhan Chí T và đâm trúng vùng bụng, tay phải của Nhan Văn E; còn bị cáo Trần Ngọc K1 (V1) dùng gạch đánh vào mặt của N Bé T. Kết luận giám định tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên cho Lê Thái N1 là 17% (mười bảy phần trăm), Nhan Chí T là 02% (hai phần trăm), Nhan B T là 02% (hai phần trăm); Nhan Văn E là 03% (ba phần trăm).
[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của con người được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự tại địa phương, gây hoang mang trong xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình.
[5] Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi được thực hiện với lỗi cố ý. Trong vụ án này, giữa các bị hại với các bị cáo không có mâu thuẫn gì, chỉ vì anh N1 cho rằng gia đình bị cáo Chí T hát karaoke gây ồn ào nên xảy ra cự cãi
và đánh nhau gây thương tích. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội để xử phạt bị cáo Nhan Chí T 02 năm 06 tháng tù, bị cáo N Bé T 02 năm tù, Trần Thanh S (Hô) 01 năm tù và Trần Ngọc K1 06 tháng tù là có căn cứ phù hợp pháp luật.
[6] Đối với yêu cầu xin miễn trách nhiệm hình sự của bị hại Nhan Chí T, Nhan Bé T và Nhan Văn E đối với các bị cáo Trần Thanh S (H) và Trần Ngọc K1 (V2).
Trong giai đoạn sơ thẩm ông Nhan Văn E, Nhan Chí T và Nhan Bé T có yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với bị cáo Trần Thanh S và Trần Ngọc K1 nên cấp sơ thẩm xét xử Trần Thanh S và Trần Ngọc K1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên, sau khi xét xử vụ án ông E và Chí T đã có đơn yêu cầu miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo S và K1. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Nhan Văn E, Nhan Chí T và Nhan B T xác định việc xin rút yêu cầu khởi tố hình sự đối với Trần Thanh S, Trần Ngọc K1 là hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc.
Hội đồng xét xử xét thấy, hai bị cáo S và K1 bị kết án về tội phạm quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự, thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu người bị hại theo quy định tại khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuy hai bị cáo K1 và S không kháng cáo, nhưng ông E và Chí T, Bé Thiện rút yêu khởi tố hình sự đối với Trần Thanh S, Trần Ngọc K1 là hoàn toàn tự nguyện, không bị cưỡng bức, đe dọa rút yêu cầu khởi tố. Hội đồng xét xử chấp nhận; căn cứ vào khoản 2 Điều 155 và Điều 359 của Bộ luật Tố tụng hình sự hủy một phần bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án đối với bị cáo Trần Thanh S và Trần Ngọc K1 như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Lý do hủy và đình chỉ vụ án đối với bị cáo K1 và S là do người đã yêu cầu khởi tố vụ án hình sự rút yêu cầu, không phải lỗi của Tòa án cấp sơ thẩm.
[7] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo của các bị cáo Nhan Chí T, N Bé T và bị hại Lê Thái N1, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: Sự việc xảy ra lỗi hoàn toàn của bị hại Lê Thái N1, quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải; sau khi xét xử sơ thẩm các bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại theo bản án sơ thẩm và được bị hại kháng cáo xin được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
[7.1] Mức hình phạt 2 năm 06 tháng tù đối với bị cáo Chí T thì thấy: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường xong cho bị hại, bị cáo Chí T là lao động chính trong gia đình, có 03 con nhỏ đang độ tuổi đi học; trong vụ này nguyên nhân chính thuộc lỗi bị hại N1 và bị hại cũng có đơn yêu cầu giảm hình phạt cho bị cáo; bị cáo Chí T cũng là bị hại trong vụ án, có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Trần Thanh S và Trần Ngọc K1. Do đó mức hình phạt mà cấp sơ thẩm xử, có phần nặng đối với bị cáo Chí T, tuy nhiên bị cáo có nhân thân xấu nên việc xin hưởng án treo không được chấp nhận. Hội đồng xét xử chấp nhận giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù cũng đủ giáo dục, cải tạo trở thành công dân tốt cho xã hội, như đề nghị của Viện kiểm sát.
[7.2] Mức hình phạt 2 năm tù đối với bị cáo N Bé T thì thấy, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường xong cho bị hại, lao động chính trong gia đình, có 01 con còn rất nhỏ; trong vụ này nguyên nhân chính thuộc lỗi bị hại Lê Thái N1 và bị hại cũng có đơn yêu cầu giảm hình phạt cho bị cáo; tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Bé T cũng là bị hại trong vụ án, có yêu cầu miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Trần Thanh S và Trần Ngọc K1. Trong cùng vụ án, bị cáo Chí T, Bé T3 là anh, em ruột với nhau; do đó việc bắt bị cáo B T3 chấp hành hình phạt tù là không cần thiết, bị cáo Bé T3 có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng; việc cho bị cáo B T3 hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự xã hội tại địa phương; hoàn toàn phù hợp quy định được hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; thời gian thử thách tại địa phương, cũng đủ giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội.
Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt và cho hưởng án treo của bị cáo Bé T3, xử phạt bị cáo 01 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm, giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã A, thị xã T giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ giáo dục, cải tạo bị cáo; đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa không cho hưởng án treo là không đồng quan điểm với Hội đồng xét xử.
[8] Do kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo, bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[9] Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 155 và Điều 359 Bộ luật Tố tụng hình sự; hủy một phần bản án hình sự sơ thẩm số 45/2024/HS-ST ngày 01 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên và đình chỉ vụ án đối với bị cáo Trần Thanh S và Trần Ngọc K1.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nhan Chí T, Nhan B T và bị hại Lê Thái N1; sửa bản án hình sự sơ thẩm số 45/2024/HS-ST ngày 01 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang.
Tuyên bố các bị cáo Nhan Chí T, Nhan B T phạm tội “Cố ý gây thương tích”
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nhan Chí T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo N Bé T 01 (một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo N Bé T cho Ủy ban nhân dân xã A, thị xã T, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: các bị cáo, bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Sơn |
Bản án số 145/2024/HS-PT ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 145/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cái Nhan Chí T - Cố ý gây thương tích
