|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 145/2024/HNGĐ-ST;
Ngày: 24/05/2024;
V/v tranh chấp HNGĐ-Ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Bình.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Ly; Ông Nguyễn Văn Trí.
Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thảo. Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang: Bà Đoàn Thụy Thùy Trang – kiểm Sát viên.
Ngày 24 tháng 05 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 138/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 03 năm 2024 về tranh chấp hôn nhân gia đình “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 214/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 04 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Mai Thị Mỹ D – sinh năm 1969; Nơi cư trú: ấp T, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; Địa chỉ liên lạc: số B tổ A ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Có đơn xin vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Mai Vũ P – sinh năm 1972; Nơi cư trú: ấp T, xã M, huyện C, tỉnh An Giang. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Mai Thị Mỹ D trình bày: bà và ông P quen biết và tiến tới hôn nhân vào năm 1995, có tổ chức lễ cưới nhưng không đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống đến năm 2009 thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, ông P thường xuyên uống rượu đánh đạp vô cớ nên không còn chung sống với nhau. Nhận thấy tình cảm không còn yêu cầu được ly hôn ông P.
Về con chung: vợ chồng có 02 con chung tên Mai Văn Vũ L, sinh năm 1996 đã trưởng thành và Mai Tuấn V, sinh ngày 25/11/2008 hiện đang sống chung với bà. Khi ly hôn yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung tên V không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: không có.
Bị đơn Ông Mai Vũ P đã được Tòa án triệu tập tham gia tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến gởi đến Tòa án,
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật. Nguyên đơn có yêu cầu văng mặt khi xét xử nên hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt là đúng quy định. Về ý kiến về việc giải quyết vụ án: Về hôn nhân: bà D, ông P chung sống kết hôn năm 1995 không đăng ký kết hôn nên hôn nhân không được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Vợ chồng sống chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn và không còn chung sống với nhau. Do bà D, ông P không đăng ký kết hôn nên đề nghị không công nhận là vợ chồng. Về con chung có 02 con chung tên Mai Văn Vũ L, sinh năm 1996 đã trưởng thành và Mai Tuấn V, sinh ngày 25/11/2008. Bà D yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung tên V không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; ông P không có ý kiến phản hồi, nên việc bà D xin ly hôn với ông P và yêu cầu cầu được tiếp tục nuôi con chung là phù hợp Điều 14, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, nên không đề cập giải quyết.hiện hai con đã trưởng thành nên không đề cập đến vấn đề cấp dưỡng và nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn có nơi cư trú tại xã M, huyện C, tỉnh An Giang, nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại các Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt là có căn cứ.
[2]. Về nội dung tranh chấp: bà D ông P chung sống với nhau vào năm 1995 nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định nên hôn nhân không được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Trong cuộc sống chung vợ chồng theo bà D trình bày vợ chồng chung sống đến năm 2009 thì xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm nguyên nhân do ông P thường uống rượu đánh đạp vô cớ và không còn chung sống với nhau. Xét thấy bà D ông P không còn chung sống đã lâu hai bên không có thiện chí hàn gắn nên mục đích hôn nhân không đạt được nhưng do bà D ông P không đăng ký kết hôn. Căn cứ Điều 14 Luật hôn nhân gia đình không công nhận bà D ông P là vợ chồng.
[3]. Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Mai Văn Vũ L, sinh năm 1996 đã trưởng thành và Mai Tuấn V, sinh ngày 25/11/2008 hiện đang sống chung với bà D. Bà D yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung tên Mai Tuấn V không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; ông P không có ý kiến phản hồi, nguyện vọng cháu L cũng mong muốn tiếp tục chung sống với bà D. Do đó, để bà D tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là phù hợp với pháp luật, ông P không phải cấp dưỡng nuôi con.
[4]. Về quan hệ tài sản chung: không yêu cầu giải quyết.
[5]. Về quan hệ nợ chung: không có.
[6]. Án phí hôn nhân sơ thẩm: bà D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 14, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 28, Điều 35; Điều 39 Điều 147; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Mai Thị Mỹ D và ông Mai Vũ P là vợ chồng.
Về quan hệ con chung: Bà Mai Thị Mỹ D được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Mai Văn Vũ L, sinh ngày 25/11/2008, ông P không phải cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu Mai Văn Vũ L, sinh năm 1996 đã trưởng thành nên không xem xét đến vấn đề nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
Bà Mai Thị Mỹ D cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông P trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
Về quan hệ tài sản chung: không yêu cầu giải quyết.
Về quan hệ nợ chung: không có.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: bà Mai Thị Mỹ D phải chịu 300.000₫ được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000đ theo biên lai thu số 0013125 ngày 29/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới.
Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng các đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Bình |
Bản án số 145/2024/HNGĐ-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về hngđ-ly hôn
- Số bản án: 145/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: HNGĐ-Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn xin ly hôn vì tình cảm không còn
