|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 145/2024/HNGĐ - ST
Ngày 21 tháng 8 năm 2024
V/v “Tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Nguyên và ông Trần Thanh Việt
Thư ký phiên tòa: Bà Lý Ngọc Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Bà Trần Yến Thương - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 399/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 499/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 485/2024/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Ngô Thăng B, sinh năm: 1998. Địa chỉ: Số A T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. ĐT: 0947.454.xxx (có đơn xin vắng mặt);
- Bị đơn: Ông Nguyễn Hồng Â, sinh năm 1993. Địa chỉ: Số A T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Địa chỉ liên hệ: Ấp V, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang. ĐT: 0916.456.xxx (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn bà Ngô Thăng B trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Thăng B và ông Nguyễn Hồng  tự nguyện quen biết tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L, tỉnh An Giang vào ngày 04/11/2021. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do trong cuộc sống không có tiếng nói chung, thường xuyên bất đồng quan điểm dẫn đến cự cãi, hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà B yêu cầu ly hôn với ông Â.
Về con chung: có 02 (hai) con chung tên Nguyễn Hồng Trúc A, sinh ngày 10/7/2021 và Nguyễn Hồng Bảo V, sinh ngày 15/5/2023. Sau khi ly hôn, bà B yêu cầu trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung và không yêu cầu ông  cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Hồng Á vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng tại phiên tòa trình bày:
Thống nhất với trình bày của bà B về quá trình chung sống và đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, ông  cho rằng sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc không có phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Mặc dù, ông biết bà B có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác bên ngoài nhưng do thương 02 con còn nhỏ nên không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà B và yêu cầu Tòa án giải quyết đoàn tụ.
Về con chung: có 02 (hai) con chung tên Nguyễn Hồng Trúc A, sinh ngày 10/7/2021 và Nguyễn Hồng Bảo V, sinh ngày 15/5/2023. Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà B thì ông  yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Trúc A và giao cháu Bảo V cho bà B trực tiếp nuôi dưỡng và tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu Bảo V 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu trưởng thành. Trường hợp Tòa án giao 02 cháu Trúc A và Bảo V cho bà B trực tiếp nuôi dưỡng thì ông B không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn bà Ngô Thăng B có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn ông Nguyễn Hồng  không đồng ý ly hôn với bà B, yêu cầu giải quyết đoàn tụ.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án;
- Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Nguyên đơn, bị đơn tự nguyện tiến đến hôn nhân và đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Bà B cho rằng trong quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn ông Â. Còn ông  cho rằng mâu thuẫn vợ chồng chưa đến mức trầm trọng, mặc dù biết bà B có quan hệ với người đàn ông khác bên ngoài nhưng không đồng ý ly hôn với bà B, yêu cầu giải quyết đoàn tụ. Xét thấy, cuộc sống hôn nhân giữa bà B và ông  không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở theo quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: có 02 (hai) con chung tên Nguyễn Hồng Trúc A, sinh ngày 10/7/2021 và Nguyễn Hồng Bảo V, sinh ngày 15/5/2023. Sau khi ly hôn, để đảm bảo ổn định về tinh thần cũng như đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chung nên đề nghị chấp nhận giao 02 cháu Trúc A và Bảo V cho bà B tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục theo quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung, nợ chung: không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Ngô Thăng B khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Hồng Â. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý là đúng thẩm quyền.
[2] Nguyên đơn bà Ngô Thăng B có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.
- Về nội dung vụ án:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà B và ông  xác lập quan hệ vợ chồng và chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của ông, bà được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Khi vợ chồng chung sống thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hòa hợp, bất đồng về quan điểm sống, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nên bà B cương quyết yêu cầu ly hôn. Bị đơn ông  cho rằng mâu thuẫn vợ chồng chưa đến mức trầm trọng, mặc dù biết bà B có quan hệ với người đàn ông khác bên ngoài nhưng ông vẫn chấp nhận và không đồng ý ly hôn, yêu cầu giải quyết đoàn tụ.
Hội đồng xét xử nhận thấy, hôn nhân phải trên cơ sở tự nguyện, bà B xác định không thể tiếp tục chung sống cùng với ông Â, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, giữa vợ chồng không còn thực hiện các quyền và nghĩa vụ cũng như không cố gắng hàn gắn, duy trì cuộc sống hôn nhân. Tại phiên tòa, ông  không đồng ý ly hôn nhưng không đưa ra giải pháp nào để hàn gắn, đoàn tụ với bà B nên không có cơ sở xem xét, chấp nhận. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà B là phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[4] Về con chung: có 02 (hai) con chung tên Nguyễn Hồng Trúc A, sinh ngày 10/7/2021 và Nguyễn Hồng Bảo V, sinh ngày 15/5/2023. Sau khi ly hôn, bà B yêu cầu trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung. Ông  yêu cầu được nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Trúc A và giao cháu Bảo V cho bà B trực tiếp nuôi dưỡng.
Hội đồng xét xử nhận thấy, 02 cháu Trúc A và Bảo V chưa thành niên, đang được bà B chăm sóc, nuôi dưỡng trực tiếp, cuộc sống của các cháu đã ổn định. Vì vậy, nhằm để ổn định cuộc sống của các cháu không bị ảnh hưởng tâm sinh lý khi cha, mẹ ly hôn và đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho các cháu nhất là cả hai cháu đều là bé gái, rất cần sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận giao 02 (hai) cháu Nguyễn Hồng Trúc A, sinh ngày 10/7/2021 và Nguyễn Hồng Bảo V, sinh ngày 15/5/2023 cho bà Ngô Thăng B tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Ông Nguyễn Hồng  không trực tiếp nuôi con chung nhưng có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được ngăn cản ông  thực hiện quyền này.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
[5] Đối với việc cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, ông  không trực tiếp nuôi con thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định. Tuy nhiên, bà B không yêu cầu ông  cấp dưỡng nuôi 02 con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6] Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà B phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Ông A không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 186; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273; Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thăng B đối với ông Nguyễn Hồng Â.
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Ngô Thăng B đối với ông Nguyễn Hồng Â.
Giấy chứng nhận kết hôn ngày 04/11/2021 do Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L, tỉnh An Giang cấp cho bà Ngô Thăng B và ông Nguyễn Hồng  hết hiệu lực kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Hồng Trúc A, sinh ngày 10/7/2021 và Nguyễn Hồng Bảo V, sinh ngày 15/5/2023 cho bà Ngô Thăng B trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Ông Nguyễn Hồng  không trực tiếp nuôi dưỡng con chung nhưng ông có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được ngăn cản ông  thực hiện quyền này.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định. Việc nuôi con không cố định.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: không xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét, giải quyết.
- Về án phí sơ thẩm: Bà Ngô Thăng B phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002266 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên ngày 26/6/2024. Bà B đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Nguyễn Hồng  không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (21/8/2024).
Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Dung |
Bản án số 145/2024/HNGĐ - ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 145/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngô Thăng Bình - lê Hồng Ân
