Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HOÁ

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 145/2025/HSST

Ngày: 19/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ TỈNH THANH HOÁ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trịnh Thị Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Vụ
Bà Nguyễn Thị Hằng

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Tuấn Thành - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện VKSND thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Ông Lê Khánh T - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 154/2025/TLST - HS ngày 20 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số : 155/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị N, sinh ngày 03 tháng 02 năm 1974; tại tỉnh Thanh Hóa;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú : Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi ở hiện tại: số nhà C, nhà A Đ, chung cư Đ, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Số thẻ CCCD: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo : Không; con ông Nguyễn Duy N1 (đã chết) và bà Bùi Thị L (đã chết); có chồng Phạm Văn Đ, sinh năm 1972; có 02 con: con lớn nhất sinh năm 1994; con nhỏ nhất sinh năm 2003; Tiền án, tiền sự : Không ;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/12/2024 đến ngày 20/12/2024 huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giữ, áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan :

- Chị Mai Thị T1, sinh năm 1989 (vắng mặt)

Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: lô 43, MB E, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

- Chị Hà Thị Yến L1, sinh năm 1989 (vắng mặt)

Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: lô E, Đ, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

- Chị Đoàn Thị H, sinh năm 1984 (vắng mặt)

Nơi thường trú : Lô 20, Liền K, phường A, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi ở hiện tại: phòng B, nhà C, Chung Cư Đ, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau :

Trên cơ sở tố giác của quần chúng nhân dân và ngày 16/12/2024 Nguyễn Thị N đến Công an thành phố T đầu thú và khai nhận: Do không có việc làm ổn định nên từ tháng 9/2024 đến tháng 11/2024 Nguyễn Thị N đã sử dụng số tiền cá nhân 128.000.000đ (một trăm hai mươi tám triệu đồng) cho 03 người vay trên địa bàn TP T, tỉnh Thanh Hóa vay với lãi suất gấp hơn 05 lần so với mức lãi suất cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự, khi trả thanh toán dưới hình thức khách vay có thể trả tiền mặt hoặc chuyển khoản vào số tài khoản ngân hàng T3 số 1303274888. Cụ thể như sau:

  1. Ngày 01/11/2024, N cho chị Mai Thị T1, sinh năm 1989, sinh năm 1989, trú tại Lô D, MB E phường Q, thành phố T vay 50.000.000 đồng dưới hình thức vay thăm. Chị T1 phải đóng thành 60.000.000 đồng trong vòng 60 ngày, mỗi ngày đóng thăm 1.000.000 đồng. Tính đến thời điểm Cơ quan Công an bị phát hiện (Ngày 16/12/2024), N thu của chị T1 được 42 ngày thăm tương ứng 42.000.000 đồng, chị T1 còn nợ 18.000.000 đồng.

    Như vậy, lãi suất N cho chị T1 vay là 158,6%/năm, gấp 7,9 lần, nhằm thu số tiền lãi 10.000.000 đồng, số tiền lãi đã thu 7.000.000 đồng, số tiền lãi thu theo quy định là 1.260.273 đồng, số tiền nhằm thu lợi bất chính là: 8,739,726 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 5.739.727 đồng .

  2. Ngày 01/10/2024, N cho chị Hà Yến L1, sinh năm 1989, trú tại Lô E, Đ, phường Đ, thành phố T vay 100.000.000 đồng dưới hình thức vay thăm. Chị L1 phải đóng thành 120.000.000 đồng trong vòng 60 ngày, mỗi ngày đóng 2.000.000 đồng. Chị L1 đã hoàn thành xong gói vay đúng thời hạn.

    Như vậy, lãi suất N cho chị L1 vay là 121,6%/năm, gấp hơn 6 lần theo quy định, thu số tiền lãi là 20.000.000 đồng, số tiền lãi theo quy định là 3.287.670 đồng, số tiền thu lợi bất chính là: 16.712.330 đồng.

  3. Ngày 02/9/2024 N cho chị Đoàn Thị H, sinh năm 1984, trú tại Lô B, Liền kề 19, KĐT mới A, phường A, thành phố T vay 40.000.000 đồng dưới hình thức vay thăm, đóng thành 60.000.000 đồng trong vòng 40 ngày, mỗi ngày đóng 1.500.000 đồng. Chị H đã đóng số tiền 12 ngày tương ứng 18.000.000 đồng thì không còn khả năng thanh toán, khoản vay này chị H còn nợ N số tiền 42.000.000 đồng.

    Như vậy, lãi suất N cho chị H vay là 456,25%/năm gấp 22,8 lần, nhằm thu số tiền 20.000.000 đồng, số tiền lãi đã thu là 6.000.000 đồng, số tiền lãi theo quy định là 876.712 đồng, số tiền nhằm thu lợi bất chính là 19.123.288 đồng, số tiền đã thu lợi bất chính là 5.123.288 đồng.

Tổng số tiền lãi mà Nguyễn Thị N nhằm thu của chị Mai Thi T2, chị Hà Yến L1 và chị Đoàn Thị H là 50.000.000 đồng, đã thu 33.000.000 đồng tiền lãi. Trong đó số tiền lãi được thu theo đúng quy định tại khoản 1, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 là 5.424.655 đồng. Số tiền lãi mà Nguyễn Thị N nhằm thu lợi bất chính là 44.575.345 đồng, số tiền lãi đã thu lợi bất chính là 27.575.345 đồng, với lãi suất tương ứng từ 121,6%/năm đến 456,25%/năm, gấp 6,08 lần đến 22,8 lần mức lãi suất cao nhất Bộ luật dân sự quy định.

Về phần dân sự:

- Chị Mai Thị T1, Hà Thị Y yêu cầu Nguyễn Thị N trả số tiền đã thu lãi đã thu quá quy định;

- Chị Đoàn Thị H không có yêu cầu, đề nghị gì.

Về vật chứng và xử lý: 01 điện thoại OPPO Reno2 F, số IMEI 1: 869563045849251, số IMEI 2: 869563045849244, gắn số sim 0849.865.655 của Nguyễn Thị N. Qua kiểm tra phát hiện các tin nhắn có nội dung chuyển, nhận tiền với chị Mai Thị T1 và Hà Yến L1 là vật chứng vụ án chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa chờ xử lý theo quy định pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 82/Ctr-VKSTPTH ngày 17/02/2025, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá đã truy tố Nguyễn Thị Nhung về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 BLHS.

Phần luận tội đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố Nguyễn Thị N phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự,

Xử phạt bị cáo từ 60 – 70 triệu đồng.

Các biện pháp tư pháp: Căn cứ vào Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 BLTTHS; NQ số 01/2021/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao:

Truy thu sung công quỹ nhà nước từ bị cáo N: Số tiền gốc 85.000.000 đồng bị cáo dùng để cho chị Mai Thị T1, Hà Yến L1 và chị Đoàn Thị H vay là phương tiện phạm tội và số tiền lãi 5.424.655 đồng tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của BLDS là do phạm tội mà có. Truy thu từ chị Đoàn Thị H số tiền gốc 28.000.000 đồng, chị T1 số tiền gốc 15 triệu đồng.

Đối với Số tiền 27.575.345 đồng đồng bị cáo đã thu lời bất chính của những người vay theo quy định của pháp luật, bị cáo đã bồi thường khắc phục cho người liên quan chị Mai Thị T1; ngoài ra chị Hà Yến L1 và chị Đoàn Thị H không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền lãi thu quá quy định. Vì vậy cần thiết công nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa hai bên.

Về vật chứng : Tịch thu phát mãi sung quỹ nhà nước : 01 điện thoại di động OPPO Reno2, màu xanh, số Imel : 869563045849251 thu giữ của Nguyễn Thị N.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận gì.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN :

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tính hợp pháp của các hành vi, Quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố T, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hoá, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

[2] Các căn cứ để định tội đối với bị cáo: Về lời khai và tại phiên toà hôm nay với lời khai của bị cáo đã khai tại Cơ quan điều tra đều thống nhất với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và vật chứng đã thu được cùng tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận : Trong khoảng thời gian từ tháng 9 năm 2024 đến tháng 11 năm 2024 Nguyễn Thị N đã có hành vi sử dụng tiền của cá nhân cho vay lãi nặng đối với 03 khách hàng trên địa bàn thành phố T với tổng số tiền là 128.000.000 đồng, hình thức vay thăm. Tổng số tiền lãi Nguyễn Thị N nhằm thu 50.000.000, đã thu 33.000.000 đồng tiền lãi, số tiền lãi được thu theo đúng quy định tại khoản 1, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 là 5.424.655, Số tiền lãi mà Nguyễn Thị N nhằm thu lợi bất chính là 44.575.345 đồng, số tiền lãi thu lợi bất chính là 27.575.345 đồng.

[3] Xét tính chất vụ án: Tệ nạn cho vay nặng lãi đang lan rộng trên địa bàn thành phố nói riêng và cả nước nói chung. Mặc dù đã được lực lượng Công an triệt phá nhiều tụ điểm và thông qua công tác xét xử đã tuyên truyền sâu rộng, nhằm ngăn chặn, đẩy lùi các tội phạm tiếp theo, bị cáo biết nhưng vẫn phạm tội. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ mà còn tạo ra dư luận xấu trong nhân dân. Tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, cần phải được xử lý nghiêm mới có tác dụng răn đe, giáo dục cải tạo và phòng ngừa chung.

[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã bồi thường số tiền thu lời bất chính cho người liên quan chị Mai Thị T1 số tiền là 5.739.727 đồng, bị cáo đã đến cơ quan Công an T đầu thú hành vi phạm tội của mình. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm, giáo dục cải tạo trở thành công dân tốt.

[5] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về các biện pháp tư pháp:

Truy thu sung công quỹ nhà nước từ bị cáo N: Số tiền gốc 85.000.000 đồng (trong đó của L1 là 50.000.000 đồng, T1 20.000.000 đồng, Huế 15.000.000 đồng) bị cáo dùng để cho chị Mai Thị T1, Hà Yến L1 và chị Đoàn Thị H vay là phương tiện phạm tội và số tiền lãi 5.424.655 đồng tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của BLDS là do phạm tội mà có. Truy thu từ chị Đoàn Thị H số tiền gốc 28.000.000 đồng, chị T1 số tiền gốc 15 triệu đồng để nộp vào ngân sách nhà nước.

Đối với Số tiền 27.575.345 đồng đồng bị cáo đã thu lời bất chính của những người vay theo quy định của pháp luật. Đến giai đoạn chuẩn bị xét xử thì bị cáo đã trả lại cho chị Mai Thị T1 số tiền là 5.739.727 đồng mà bị cáo đã thu lời bất chính của chị T1. Chị Hà Yến L1 và chị Đoàn Thị H không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền lãi thu quá quy định. Vì vậy cần chấp nhận sự tự nguyện của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

[7] Về vật chứng : Tịch thu phát mãi sung quỹ nhà nước : 01 điện thoại di động OPPO Reno2, màu xanh, số Imel : 869563045849251 thu giữ của Nguyễn Thị N.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và điểm 1 Mục I phần A của Danh mục án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ : khoản 1 Điều 201; điểm b,i,s khoản 1,2 Điều 51, Điều 35; khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm b khoản 2 Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136 BLTTHS ; điểm a khoản 1 Điều 3; khoản 1 Điều 21; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Toà án ; Mục 1, phần 1 Danh mục án phí Toà án.

Tuyên bố : Bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội ‘’Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Xử phạt : Bị cáo Nguyễn Thị N 70 triệu đồng.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;

Các biện pháp tư pháp: Căn cứ vào Điều 46 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 BLTTHS; NQ số 01/2021/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao:

Truy thu sung công quỹ nhà nước từ bị cáo Nguyễn Thị N: Số tiền gốc là 85.000.000 đồng (trong đó của L1 là 50.000.000 đồng, T1 20.000.000 đồng, Huế 15.000.000 đồng) bị cáo dùng để cho chị Mai Thị T1, chị Hà Yến L1 và chị Đoàn Thị H vay là phương tiện dùng vào việc phạm tội và số tiền lãi 5.424.655 đồng tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của BLDS là do phạm tội mà có.

Truy thu từ chị Đoàn Thị H số tiền gốc 28.000.000 đồng, chị T1 số tiền gốc 15 triệu đồng để tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.

Chấp nhận sự thoả thuận bồi thường số tiền 5.739.727 đồng mà bị cáo đã bồi thường cho chị Mai Thị T1.

Chấp nhận sự tự nguyện của chị Hà Yến L1 và chị Đoàn Thị H không yêu cầu giải quyết về phần trách nhiệm dân sự.

Về vật chứng : Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

Tịch thu phát mãi sung quỹ nhà nước: 01 Điện thoại di động OPPO Reno2, màu xanh, số Imel : 869563045849251 thu giữ của Nguyễn Thị N. Điện thoại đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy móc bên trong.

Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại cơ quan Thi hành án Dân sự thành phố T, tỉnh Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/02/2025 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận :

  • - Tòa án ND Tỉnh Thanh Hoá;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hoá;
  • - VKSND TP Thanh Hoá ;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thanh Hoá ;
  • - Văn phòng CSĐT Công an TP Thanh Hoá;
  • - Chi cục Thi hành án TP Thanh Hoá;
  • - Cơ quan THAHS TP Thanh Hoá;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trịnh Thị Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 145/2025/HSST ngày 19/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ TỈNH THANH HOÁ về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 145/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger