|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 145/2025/DS-PT Ngày 14-3-2025 V/v tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
|
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: |
Ông Nguyễn Văn Huỳnh |
|
Các Thẩm phán: |
Ông Nguyễn Văn Tài |
|
Ông Nguyễn Trung Dũng |
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Phước – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 556/2024/TLPT-DS ngày 06 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 36/2024/DS-ST ngày 10 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 118/2025/QĐ-PT ngày 13/02/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1959 và bà Trần Thị K, sinh năm 1957; cùng địa chỉ: tổ A, khu phố C, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bình Dương.
- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 1980; địa chỉ: tổ A, khu phố C, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bình Dương (Văn bản ủy quyền ngày 05/12/2023); có mặt.
- - Bị đơn: Ông Võ Minh P, sinh năm 1969 và bà Phạm Thị Yến L1, sinh năm 1985; cùng địa chỉ: tổ B, ấp T, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương; ông P có mặt, bà L1 vắng mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Phạm Quốc L2, là Luật sư Công ty TNHH T1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B; địa chỉ: số F, đường Đ, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương; có mặt.
-
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Châu T, sinh năm 1987;
- Ông Nguyễn Châu K1, sinh năm 1990;
- Ông Nguyễn Châu B, sinh năm 1994;
- Bà Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 1980;
- Bà Nguyễn Thị Thùy N, sinh năm 1983;
- Bà Nguyễn Thị Hồng G, sinh năm 1986;
Cùng địa chỉ: tổ A, khu phố C, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bình Dương; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- - Người kháng cáo: Bị đơn ông Võ Minh P.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện đề ngày 05/12/2023, Đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện ngày 24/5/2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Phạm Thị Yến L1 trình bày:
Ngày 18/01/2021, giữa vợ chồng Nguyễn Văn C, Trần Thị K với ông Võ Minh P ký hợp đồng thuê đất; thời hạn thuê là 05 năm từ ngày 01/02/2021 đến ngày 01/02/2026; thanh toán tiền từ ngày 01-05 tây hàng tháng; giá cho thuê từng năm: năm đầu là 15.000.000 đồng/tháng; năm thứ hai là 16.500.000 đồng; năm thứ ba là 18.150.000 đồng; năm thứ tư là 19.965.000 đồng; năm thứ năm là 21.961.000 đồng; đặt cọc 50.000.000 đồng. Quá trình thuê, quản lý và sử dụng đất, ông P và vợ ông P là bà Phạm Thị Yến L1 cùng làm; đã thanh toán tiền thuê đất đến hết tháng 6/2023. Ông P thông báo trả đất thuê từ ngày 01/7/2023 nhưng không giao đất và không thanh toán tiền thuê. Do bên thuê vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 07/11/2023, ông C và bà K gửi thông báo về việc hủy bỏ hợp đồng thuê đất và yêu cầu ông P trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được thông báo phải thanh toán tiền thuê, di dời các tài sản trên đất và chấm dứt hợp đồng thuê nhưng ông P không thực hiện.
Do đó, ông C và bà K khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên hủy Hợp đồng thuê đất ngày 18/01/2021; buộc ông P và bà L1 liên đới thanh toán tiền thuê đất còn nợ, tính đến thời điểm xét xử: Tiền thuê theo hợp đồng từ tháng 07/2023 đến tháng 01/2024 là 18.150.000 đồng/tháng x 07 tháng = 127.050.000 đồng; từ tháng 02/2024 đến tháng 5/2024 là 19.965.000 đồng/tháng là 79.860.000 đồng, tổng cộng là 206.910.000 đồng. Nguyên đơn đồng ý trả 50.000.000 đồng tiền cọc đã nhận cọc cho ông P; buộc ông P và bà L1 tháo dỡ tài sản trên đất, trả lại đất như hiện trạng ban đầu.
Đến ngày 01/6/2024, ông P đã tháo dỡ toàn bộ tài sản trên đất và trả mặt bằng. Ông Nguyễn Quốc D và bà Thạch Thị Na R cũng không còn ở trên đất. Do đó, ông C và bà K yêu cầu Tòa án tuyên chấm dứt Hợp đồng thuê đất từ ngày 01/6/2024; buộc ông P và bà L1 liên đới thanh toán tiền thuê đất còn nợ tính từ ngày 01/7/2023 đến ngày 31/5/2024 là 206.910.000 đồng.
- Bị đơn ông Võ Minh P trình bày tại buổi hòa giải và Bản tự khai ngày 24/5/2024 như sau:
Năm 2021, ông P thuê đất của ông C và bà K theo Hợp đồng thuê đất ngày 18/01/2021. Quá trình thực hiện hợp đồng thuê: năm thứ nhất, ông P đóng tiền 15.000.000 đồng/tháng; đến năm thứ hai, do gặp dịch Covid nên ông C, bà K giảm tiền thuê còn 12.000.000 đồng/tháng, từ đó đến nay chưa thay đổi.
Tháng 5/2023, ông P thông báo với ông C về việc chấm dứt hợp đồng thuê đất từ tháng 7/2023 do gặp khó khăn và yêu cầu trả tiền thế chân 50.000.000 đồng nhưng ông C và bà K không trả tiền. Đến ngày 01/11/2023, do không nhận được tiền thế chân nên ông ngưng không trả tiền thuê và thông báo ngừng kinh doanh, chờ nhận tiền thế chân, dỡ quán và vợ chồng ông dọn đi. Ông P đã trả tiền thuê đất đến hết tháng 10/2023, trả bằng tiền mặt và không lập thành văn bản. Quá trình thuê đất, ông P cùng vợ là bà L1 ở trên đất, cùng kinh doanh, sử dụng đất thuê. Ông P cam kết dỡ quán và tài sản trên đất để trả đất thuê chậm nhất từ ngày 01/6/2024, chấm dứt hợp đồng thuê đất. Trước yêu cầu khởi kiện, ông chỉ đồng ý trả mặt bằng thuê đất khi nhận lại tiền thế chân, không đồng ý trả tiền thuê. Từ khi thông báo chấm dứt hợp đồng thuê, ông có nhờ người trong coi đất thuê nhưng không rõ họ tên.
Bị đơn bà Phạm Thị Yến L1 nộp cho Tòa án USB chứa đựng nội dung ghi âm và văn bản diễn giải nội dung ghi âm ngày 17/6/2024 ghi lại cuộc nói chuyện giữa bà L1 với ông C, bà K lúc 18 giờ 24 phút ngày 13/8/2023 được bà L1 ghi lại bằng điện thoại của bà L1: Đoạn ghi âm ghi lại cuộc nói chuyện của bà với ông C và bà K về việc bà L1, ông P thông báo không tiếp tục thuê đất, yêu cầu ông C, bà K trả tiền thế chân. Nội dung đoạn ghi âm có lời thừa nhận của bà L1 về việc đã nợ tiền thuê đất 02 tháng. Ông C đồng ý trả lại ½ tiền thế chân và có ý kiến trường hợp bà L1 không đồng ý thì đề nghị thực hiện theo hợp đồng. Ngoài ra, bà L1 không có ý kiến hoặc yêu cầu nào khác.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm ông Nguyễn Châu T, ông Nguyễn Châu K1, ông Nguyễn Châu B, bà Nguyễn Thị Thùy L, bà Nguyễn Thị Thùy N, bà Nguyễn Thị Hồng G trình bày tại Bản tự khai ngày 24/5/2024 như sau: Ông, bà là con của ông C và bà K. Thửa đất số 295, tờ bản đồ số 14 tại ấp C, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bình Dương, cấp cho hộ ông C là tài sản của ông C và bà K. Ông, bà không có tài sản trên đất. Ông, bà thống nhất với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không có yêu cầu về việc giải quyết vụ án. Đề nghị Tòa án không đưa ông, bà tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng.
- Người làm chứng ông Nguyễn Quốc D và bà Thạch Thị Na R trình bày: Do bà Na R không biết chữ nên ông D viết hộ. Bà Na R làm thuê (rửa chén) cho quán lẩu cua đồng đến tháng 11/2023 thì chủ quán không thuê nữa. Trong thời gian nghỉ việc, bà Na R thường xuyên trông quán. Ông D sống chung với bà Na R nhưng không có kết hôn.
Biên bản xác minh ngày 04/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên tại đất bị tranh chấp cho thấy: Từ ngày 31/5/2024, ông P đã dỡ bỏ toàn bộ tài sản được dùng làm quán trên thửa đất số 295. Hiện tại, đất cho thuê là đất trống.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 36/2024/DS-ST ngày 10 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn C và bà Trần Thị K với bị đơn ông Võ Minh P và bà Phạm Thị Yến L1 về việc tranh chấp Hợp đồng thuê đất ngày 18/01/2021.
- Chấm dứt Hợp đồng thuê đất ngày 18/01/2021 từ ngày 31/5/2024. Ông Võ Minh P và bà Phạm Thị Yến L1 có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho ông Nguyễn Văn C và bà Trần Thị K 206.910.000 (Hai trăm lẽ sáu triệu chín trăm mười nghìn) đồng.
- Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Văn C và bà Trần Thị K về việc hoàn trả cho ông Võ Minh P và bà Phạm Thị Yến L1 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng). Cấn trừ với số tiền ông Võ Minh P và bà Phạm Thị Yến L1 được nhận với số tiền phải thanh toán nêu trên, ông Võ Minh P và bà Phạm Thị Yến L1 có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho ông Nguyễn Văn C và bà Trần Thị K 156.910.000 đồng (một trăm năm mươi sáu triệu chín trăm mười nghìn đồng).
- Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 24/7/2024, ông Võ Minh P kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày: theo thỏa thuận trong hợp đồng thì 02 bên có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng. Ngày 06/11/2023, nguyên đơn đã thông báo chấm dứt hợp đồng, sau thời hạn 30 ngày kể từ ngày thông báo thì hợp đồng chấm dứt. Như vậy, hợp đồng thuê đất đã chấm dứt từ ngày 06/12/2023, bị đơn đã dọn đồ trên đất thuê đến địa chỉ mới, có người làm chứng chứng kiến nên Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị đơn trả tiền thuê đất là không đúng. Mặt khác, đơn khởi kiện bổ sung của nguyên đơn là vượt quá yêu cầu khởi kiện bản đầu, Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý yêu cầu này là không phù hợp với Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn. Do đó, đề nghị hủy bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng tại Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Bị đơn ông P kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm với lý do nguyên đơn khởi kiện sửa đổi bổ sung vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu. Tuy nhiên, pháp luật không cấm người khởi kiện được sửa đổi bổ sung khởi kiện ban đầu, yêu cầu sửa đổi bổ sung đơn kiện đã được Toà án cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết đúng theo trình tự thủ tục tố tụng. Về nội dung vụ án, Toà án cấp sơ thẩm buộc bị đơn phải trả tiền thuê chưa thanh toán là có căn cứ. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông P, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- [1] Về tố tụng: Ngày 24/7/2024, bị đơn ông Võ Minh P nộp đơn kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm. Xét thấy, đơn kháng cáo được nộp trong thời hạn, có nội dung, hình thức phù hợp với quy định của pháp luật nên đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
- [2] Về nội dung: Ngày 18/01/2021, vợ chồng ông Nguyễn Văn C, bà Trần Thị K đã ký hợp đồng thuê đất với ông Võ Minh P. Tại nội dung hợp đồng quy định: thời hạn thuê đất 05 năm từ ngày 01/02/2021 đến ngày 01/02/2026; giá cho thuê từng năm: năm đầu là 15.000.000 đồng/tháng; năm thứ hai là 16.500.000 đồng/tháng; năm thứ ba là 18.150.000 đồng; năm thứ tư là 19.965.000 đồng; năm thứ năm là 21.961.000 đồng; ông Võ Minh P đặt cọc cho ông C, bà K số tiền 50.000.000 đồng. Trong quá trình xét xử sơ thẩm, nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận nội dung đã thỏa thuận trong hợp đồng trên, đây là chứng cứ không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
-
[3] Xét kháng cáo của bị đơn ông Võ Minh P: Ông P kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ án sơ thẩm vì chưa đánh giá hết các tài liệu, chứng cứ, chưa đảm bảo đúng thực tế, không đảm bảo khách quan, chưa áp dụng đúng quy định của pháp luật.
- [3.1] Xét thấy, về thời điểm chấm dứt hợp đồng thuê đất: ông P kháng cáo cho rằng: tháng 7/2023, vợ chồng ông P đã thông báo chấm dứt hợp đồng thuê trước thời hạn sau hai tháng. Đến tháng 10/2023 ông P đã dọn tất cả đồ đạc đi nơi khác và đã thanh toán tiền thuê đất cho ông C, bà K đến tháng 10/2023. Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện theo ủy quyền của ông C, bà K xác định: ngày 06/11/2023, ông C, bà K đã ra thông báo Hủy hợp đồng cho thuê đất ngày 18/01/2021, sau 30 ngày và yêu cầu ông P trả tiền thuê đất còn thiếu.
- Quá trình tố tụng ông P cho rằng tháng 10/2023, ông P đã chấm dứt hợp đồng thuê đất với ông C, bà K và dọn tất cả đồ đạc đi nơi khác. Tuy nhiên, tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 28/3/2024 của Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định tại diện tích đất ông C, bà K cho ông P thuê có căn nhà tạm và có 02 người ở trên đất là ông Nguyễn Quốc D và bà Thạch Thị Na R ở trên đất làm thuê cho ông P. Tại Biên bản hòa giải ngày 24/5/2024, ông P đã xác định “...chỉ nhờ hai người này (ông D, bà R) trông coi quán, việc nhờ không làm hợp đồng, không trả tiền công....Tôi không sử dụng đất thuê nữa. Do đó, tôi sẽ dọn dẹp và trả lại đất thuê cho ông C và bà K chậm nhất vào ngày 01/6/2024...”. Tại mục 13.2 của Hợp đồng cho thuê đất ngày 18/01/2021 đã thỏa thuận “b) Khi hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất chấm dứt, bên B phải khôi phục tình trạng đất như khi nhận đất, trừ pháp luật có quy định khác”. Như vậy, tháng 7/2023, ông P có báo cho ông C, bà K về việc không tiếp tục thuê đất nhưng không khôi phục lại tình trạng đất như khi nhận đất nên Hợp đồng thuê đất ngày 18/01/2021 chưa chấm dứt.
- Ngày 06/11/2023, ông C, bà K đã ra thông báo Hủy hợp đồng cho thuê đất nhưng ông C thông báo cho địa phương và có xác nhận của chính quyền địa phương nhưng không thông báo cho ông P được biết theo quy định tại Điều 428 của Bộ luật Dân sự nên ông C, bà K không thực hiện đúng thủ tục để đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê đất kể từ ngày 06/12/2023.
- Ngày 06/12/2023, tại đơn khởi kiện và tại đơn khởi kiện bổ sung ngày 24/5/2024, ông C, bà K cho rằng ông P, bà L1 đã không thanh toán tiền thuê đất cho ông C, bà K từ tháng 7/2023, vi phạm nghiêm trọng hợp đồng thuê đất nên ông C, bà K khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Hợp đồng thuê đất ngày 18/01/2021 nêu trên và buộc ông P, bà L1 phải trả tiền thuê đất từ tháng 7/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm tháng 5/2024. Đến ngày 31/5/2024, ông P mới cho tháo dỡ quán, tài sản trên đất và trả lại đất cho ông C, bà K nên ông C, bà K khởi kiện yêu cầu Hủy hợp đồng thuê đất kể từ ngày 01/6/2024. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ theo tuyên bố chấm dứt hợp đồng thuê đất ngày 18/01/2021 kể từ ngày 01/6/2024 là phù hợp theo quy định tại các Điều 422, 423, 424 của Bộ luật Dân sự.
- [3.3] Về thời gian, số tiền thuê đất hàng tháng: Bị đơn ông Võ Minh P cho rằng “năm thứ nhất, ông P đóng tiền 15.000.000 đồng/tháng; năm thứ hai do gặp dịch bệnh C1 nên ông C, bà K giảm tiền thuê còn 12.000.000 đồng/tháng, từ đó đến nay chưa thay đổi” và vợ chồng ông P, bà L1 đã trả tiền thuê đất cho ông C, bà K đến hết tháng 10/2023 nhưng lời khai của ông P không được ông C, bà K chấp nhận, ông P, bà L1 không đưa ra được chứng cứ gì để chứng minh. Do đó, ông P, bà L1 phải trả tiền thuê đất cho ông C, bà K từ tháng 7/2023 đến tháng 5/2024 theo như thỏa thuận đã ký kết tại Hợp đồng thuê đất ngày 18/01/2021, cụ thể: Từ tháng 07/2023 đến tháng 01/2024 là 18.150.000 đồng/tháng x 7 = 127.050.000 đồng; từ tháng 02/2024 đến tháng 5/2024 là 19.965.000 đồng/tháng x 4 = 79.860.000 đồng, tổng là 206.910.000 đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là đúng quy định tại các Điều 472, 473, 474, 481 của Bộ luật Dân sự.
- [3.4] Bị đơn cho rằng nguyên đơn nộp đơn yêu cầu sửa đổi bổ sung yêu cầu khởi kiện vượt quá yêu cầu khởi kiện được Hội đồng xét xử sơ thẩm chấp nhận là vi phạm nghiệm trọng thủ tục tố tụng quy định tại Điều 224 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, đơn yêu cầu sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện của nguyên được được nộp trong quá trình tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm, được thụ lý giải quyết theo đúng trình tự, thủ tục tố tụng, trước khi Toà án cấp sơ thẩm có quyết định đưa vụ án ra xét xử nên không coi là vượt quá yêu cầu khởi kiện, không vi phạm Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó yêu cầu kháng cáo của bị và ý kiến của người bảo vệ quyềnvà lợi ích hợp pháp là không có căn cứ chấp nhận.
- [3.5] Từ những phân tích trên, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn và cần giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
- [4] Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn là không phù hợp
- [5] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
- [5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị đơn ông Võ Minh P không chấp nhận nên ông P phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 148, khoản 1 Điều 308, Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Võ Minh P.
- Giữ nguyên quyết định của Bản án dân sự sơ thẩm số 36/2024/DS-ST ngày 10 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Võ Minh P phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí ông P đã nộp tại Biên lai 0003771 ngày 23/9/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Huỳnh |
Bản án số 145/2025/DS-PT ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất
- Số bản án: 145/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: y án sơ thẩm
