|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 145/2024/HS-ST Ngày 22-11-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Sang
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Xuân Đồng - Chủ tịch hội Cựu chiến binh xã Trù Hựu, huyện Lục Ngạn.
- Ông Ngô Đức Thủy - Hiệu trưởng trường Tiểu học xã Đèo Gia, huyện Lục Ngạn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Nam, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Trung Kiên, Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự thụ lý số: 134/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 145/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Lý Văn L, sinh ngày 15 tháng 01 năm 2002; tại huyện L, tỉnh Bắc Giang; nơi ĐKHK thường trú và chỗ ở: Thôn V, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Dao; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 7/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Đảng viên: Không; con ông Lý Văn L1, sinh năm 1980 và bà Trần Thị H, sinh năm 1977; vợ con: chưa có; gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ hai trong gia đình.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo ra đầu thú, được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại. Bị cáo Lý Văn L có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Trần Văn B, sinh ngày 12 tháng 12 năm 1998; tại huyện S, tỉnh Bắc Giang; nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: thôn L, xã L, huyện S, tỉnh Bắc Giang; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Sán Chí; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Đảng viên: Không; con ông Trần Văn T, sinh năm 1976 và Nịnh Thị V, sinh năm 1979; vợ con: Chưa có; gia đình có 03 anh em, bị cáo là thứ nhất trong gia đình.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo ra đầu thú, được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại. Bị cáo Trần Văn B có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Cháu Hoàng Thúy K, sinh ngày 08/3/2010 (vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Q, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Lục Thị N, sinh năm 1978 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Q, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Người đại diện theo ủy quyền của bà Lục Thị N: Anh Hoàng Văn L2, sinh năm 1999 (vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Q, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Dương Quốc K1, sinh ngày 10/9/2006 (vắng mặt)
- Anh Lý Văn L1, sinh năm 1980 (vắng mặt)
- Chị Hà Thị T1, sinh năm 1970 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn V, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Thôn V, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 17/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiếp nhận đơn trình báo của anh Hoàng Văn L2, sinh năm 1999, địa chỉ ở thôn Q, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang với nội dung: em gái ruột của anh L2 là Hoàng Thúy K, sinh ngày 08/3/2010 có kể lại với anh về việc, K quen biết và nảy sinh tình cảm yêu đương với Dương Quốc K1, sinh ngày 10/9/2006, trú tại thôn V, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang, quá trình yêu đương K và K1 có phát sinh quan hệ tình dục tại nhà của K1 vào khoảng tháng 8/2023. Ngoài ra K có quan hệ tình cảm yêu đương với Lý Văn L, sinh ngày 15/1/2002, trú tại thôn V, xã P, huyện L, cả hai có quan hệ tình dục tại nhà nghỉ B1, địa chỉ tại xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang vào khoảng tháng 02/2024. K còn quen biết và yêu đương với Trần Văn B, sinh năm 1998, trú tại thôn L, xã L, huyện S, tỉnh Bắc Giang, K và B có quan hệ tình dục tại quán cắt tóc của B tại thôn B, xã B, huyện L vào khoảng tháng 5/2024; anh Hoàng Văn L2 giao nộp cho Cơ quan CSĐT Công an huyện L căn cước công dân, Giấy khai sinh mang tên Hoàng Thúy K; 01 giấy ủy quyền của gia đình bị hại cho anh L2 tham gia giải quyết vụ án.
Ngày 17/9/2024, các bị can Trần Văn B, Lý Văn L đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đầu thú và khai nhận hành vi giao cấu với cháu Hoàng Thúy K; cùng ngày 17/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L triệu tập Dương Quốc K1 để làm việc, tại Cơ quan điều tra K1 thừa nhận có hành vi giao cấu với cháu Hoàng Thúy K.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tạm giữ của Lý Văn L 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu xanh đen bạc, biển số 98E1-364.97; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, loại V2029, màu đen, đã qua sử dụng. Tạm giữ của Trần Văn B 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại máy iphone 11 Promax, màu trắng đã qua sử dụng. Tạm giữ của Dương Quốc K1 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại máy iphone8 Plus, màu vàng hồng, màn hình điện thoại đã nứt vỡ, đã qua sử dụng.
Ngày 17/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đưa cháu Hoàng Thúy K khám phụ khoa tại Trung tâm y tế huyện L, kết quả xác định: Khám ngoài không phát hiện bị thương tích gì; kiểm tra âm hộ không có tổn thương; Màng trinh tại vị trí 5 giờ và 7 giờ có vết rách cũ; Tiến hành siêu âm ổ tử cung: Không phát hiện gì bất thường, không có thai; Test HCG: Âm tính.
Ngày 17/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiến hành xác định hiện trường, cho các bị can Trần Văn B, Lý Văn L và cháu Hoàng Thúy K chỉ vị trí B và L có hành vi giao cấu với cháu K.
Quá trình điều tra đã xác định các bị can Trần Văn B, Lý Văn L và đối tượng Dương Quốc K1 có hành vi giao cấu (quan hệ tình dục) với cháu Hoàng Thúy K cụ thể như sau:
* Hành vi giao cấu của Lý Văn L với cháu Hoàng Thúy K:
Khoảng tháng 8/2023, Lý Văn L quen biết và kết bạn qua mạng xã hội Facebook với Hoàng Thúy K. Sau một thời gian tìm hiểu đến khoảng 02/2024, L và K nảy sinh tình cảm yêu đương. Vào một buổi tối tháng 02/2024 (không nhớ chính xác ngày), Lý Văn L đón cháu K đi chơi, ăn uống tại xã B, huyện L. Sau khi ăn xong L rủ cháu K đi vào nhà nghỉ B1 tại thôn B, xã B, huyện L với mục đích để quan hệ tình dục và được cháu K đồng ý. Lành thuê phòng theo giờ, lúc đến nhà nghỉ là khoảng 23 giờ, nên không phải xuất trình giấy tờ để thuê phòng. Lành thuê phòng ở tầng 1 của nhà nghỉ, tại đây L và K quan hệ tình dục 01 lần, L không sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục, cả hai người tự cởi quần áo ra, L đưa dương vật vào trong âm đạo của K để quan hệ, được khoảng 3-5 phút thì xuất tinh vào trong âm đạo của K. Sau khi quan hệ tình dục xong, L đưa K về nhà của K. Việc quan hệ tình dục giữa Lý Văn L và Hoàng Thúy K là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, L không phải đưa tiền hay vật chất gì cho cháu K.
* Đối với hành vi giao cấu của Trần Văn B với cháu Hoàng Thúy K:
Trần Văn B mở quán cắt tóc “Bảo Trần” tại thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Khoảng tháng 3/2024, Hoàng Thúy K của B để cắt tóc. Sau đó, B và K kết bạn Facebook để nói chuyện qua lại với nhau, được gần một tháng thì cả hai nảy sinh tình cảm yêu nhau. Khoảng 20 giờ trong tháng 5/2024 (không nhớ chính xác ngày), cháu Hoàng Thúy K đến quán của B. Sau khi cắt tóc, gội đầu xong, B lên gác xép ăn cơm, B mời K lên ăn cơm cùng nhưng K chỉ lên chơi và nằm ở đệm chứ không ăn cơm. Sau khi ăn cơm xong, B và K ngồi nói chuyện với nhau. Sau đó Trần Văn B sờ nắn vú của cháu K. Sau đó, K tự cởi hết quần của mình, B cũng tự cởi quần của mình rồi dùng tay cầm dương vật cho vào trong âm đạo của K, B sử dụng bao cao su đeo vào dương vật rồi đưa vào âm đạo nhấp khoảng 5-7 phút thì xuất tinh vào bao cao su đang trong âm đạo của K. Sau khi quan hệ tình dục xong, B đưa K về nhà của K. Từ đó cho đến nay B không còn quan hệ tình dục với K thêm một lần nào nữa. Việc quan hệ tình dục giữa Trần Văn B và Hoàng Thúy K là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc và B không phải đưa tiền hay vật chất nào cho cháu K.
* Đối với hành vi giao cấu của Dương Quốc K1 đối với cháu K:
Khoảng tháng 8/2023, Dương Quốc K1 rủ Hoàng Thúy K sang nhà của Khánh chơi, khi đó có cả bạn bè của K1 đang chơi tại nhà K1. Một lúc sau bạn bè của K1 đều ra về hết, chỉ còn K1 và K ở nhà. K1 cùng K vào phòng ngủ nằm nói chuyện. Sau đó, K1 ôm hôn K, dùng tay đưa vào bên trong áo để sờ ngực rồi thò tay vào trong quần của K, dùng ngón tay cho vào âm đạo của K. Tiếp sau đó, K1 tự cởi hết quần áo của mình, K cũng tự cởi hết quần áo của K rồi K1 đeo bao cao su vào dương vật, sau đó dùng tay đưa dương vật vào trong âm đạo của K và thực hiện hành vi quan hệ tình dục. Quan hệ được khoảng 20 phút thì K1 xuất tinh vào bao cao su. Sau khi quan hệ tình dục xong K1 đưa K về nhà. Việc quan hệ tình dục giữa Dương Quốc K1 và Hoàng Thúy K là hoàn toàn tự nguyện, Dương Quốc K1 không phải đưa tiền hay vật chất nào cho cháu K.
Tại thời điểm Dương Quốc K1 và Hoàng Thúy K quan hệ tình dục K1 chưa đủ 18 tuổi. Do vậy, hành vi của Dương Quốc K1 không đủ yếu tố cấu thành tội Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” quy định tại Điều 145 - Bộ Luật hình sự.
Quá trình điều tra cháu Hoàng Thúy K khai ngoài quan hệ tình dục với Trần Văn B, Lý Văn L và Dương Quốc K1 tại huyện L thì K còn quan hệ tình dục với Lý Văn T2, sinh năm 2002, trú tại thôn H, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang và Nguyễn Trung K2, sinh năm 2005, trú tại thôn C, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng tại địa bàn huyện S, tỉnh Bắc Giang vào khoảng tháng 5/2024 (quan hệ tình dục với Nguyễn Trung K2 là người cuối cùng). Ngày 11/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Lý Văn T2 và Nguyễn Trung K2 về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” quy định tại Điều 145 - Bộ luật hình sự.
Ngày 10/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Công văn số 801/CV-ĐTTH đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S cung cấp tài liệu liên quan đến việc giám định pháp y tình dục đối với cháu Hoàng Thúy K. Ngày 11/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S cung cấp tài liệu có liên quan đến việc giám định pháp y tình dục đối với Hoàng Thúy K, cụ thể:
Ngày 16/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S ra Quyết định trưng cầu giám định số 582/QĐ-CQĐT về pháp y tình dục đối với Hoàng Thúy K.Ngày 27/9/2024, Trung tâm pháp y tỉnh B ra bản Kết luận giám định xâm hại tình dục ở trẻ em số 2627/24/KLTDTE-TTPY, nội dung:
“1. Các kết quả chính:
- Màng trinh: Giãn rộng. Có vết rách cũ vị trí 3 giờ và 10 giờ.
- Xét nghiệm dịch âm đạo: Không thấy hình ảnh tinh trùng trong dịch âm đạo.
- Siêu âm tử cung phần phụ: Hiện tại siêu âm tử cung, phần phụ không thấy bất thường.
- Định lượng HCG (Beta human C máu): Âm tính.
2. Kết luận:
- Màng trinh: Giãn rộng. Có vết rách cũ vị trí 3 giờ và 10 giờ.
- Không thấy hình ảnh tinh trùng trong dịch âm đạo.
- Hiện tại Hoàng Thúy K không có thai.”
Ngày 17/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiến hành kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu iphone 11 Promax, màu trắng, đã qua sử dụng của Trần Văn B; kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại máy iphone8 Plus, màu vàng hồng của Dương Quốc K1, xác định 02 chiếc điện thoại nêu trên không liên quan đến hành vi phạm tội; tiến hành kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, loại V2029, màu đen, đã qua sử dụng của Lý Văn L: có nội dung L và Hoàng Thúy K nhắn tin nội dung liên quan đến hành vi giao cấu.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra các bị can Trần Văn B, Lý Văn L đã tự nguyện bồi thường tổn thất về danh dự, nhân phẩm cho cháu Hoàng Thúy K mỗi bị can là 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng); người bị hại Hoàng Thúy K và gia đình có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị can.
Tại phiên tòa, các bị cáo Lý Văn L đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như cáo trạng truy tố. Các bị cáo nhận thức hành vi của mình đã thực hiện là sai, vi phạm pháp luật và hứa cải tạo tốt, không tái phạm.
Bản cáo trạng số 145/CT-VKS ngày 04 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố các bị cáo Trần Văn B và Lý Văn L phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo khoản 1 Điều 145 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị HĐXX: Áp dụng khoản 1 Điều 145; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lý Văn L từ 18 tháng đến 20 tháng tù, cho hưởng án treo về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Thời gian thử thách từ 36 tháng đến 40 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lý Văn L cho UBND xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Xử phạt bị cáo Trần Văn B từ 18 tháng đến 20 tháng tù, cho hưởng án treo về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Thời gian thử thách từ 36 tháng đến 40 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Trần Văn B cho UBND xã L, huyện S, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Ngoài ra còn đề nghị xem xét về vật chứng, án phí, quyền kháng cáo của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng các quy định về thẩm quyền, trình tự tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án là hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Bị hại; người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt mà không có lý do. Xét thấy việc vắng mặt của những người trên không ảnh hưởng tới quá trình xét xử vụ án. Vì vậy, HĐXX xét xử vắng mặt những người này theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo Lý Văn L và Trần Văn B tại phiên tòa đã thừa nhận bị cáo thực hiện hành vi Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, cụ thể: Khoảng tháng 2/2024, Lý Văn L, sinh năm 2002; trú tại thôn V, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang có hành vi giao cấu (quan hệ tình dục) với cháu Hoàng Thúy K, sinh ngày 08/3/2010; trú tại thôn Q, xã P, huyện L 01 lần tại nhà nghỉ B1, tại thôn B, xã B, huyện L. Khoảng tháng 5/2024, Trần Văn B, sinh năm 1998, trú tại thôn L, xã L, huyện S, tỉnh Bắc Giang có hành vi giao cấu (quan hệ tình dục) với cháu Hoàng Thúy K 01 lần tại quán cắt tóc của B ở thôn B, xã B, huyện L.
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú; phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra cũng như vật chứng đã thu hồi; phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Lời khai của các bị cáo cũng hoàn toàn phù hợp với thời gian và địa điểm xảy ra tội phạm. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; tại thời điểm bị cáo Lý Văn L thực hiện hành vi giao cấu với cháu Hoàng Thúy K thì cháu K mới được 13 tuổi 11 tháng 21 ngày (tính đến ngày 29/02/2024); tại thời điểm bị cáo Trần Văn B thực hiện hành vi giao cấu với cháu Hoàng Thúy K thì cháu K mới được 14 tuổi 02 tháng 23 ngày (tính đến ngày 31/5/2024). Vì vậy, hành vi của các bị cáo đã đủ cơ sở cấu thành tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo khoản 1 điều 145 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố các bị cáo theo tội danh, điều luật trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4]. Nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Các bị cáo Lý Văn L và Trần Văn B đều có nhân thân tốt; chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại và được người bị hại, đại diện theo ủy quyền của người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo; sau khi phạm tội các bị cáo đã ra đầu thú. Bị cáo L có thời gian tham gia quân đội. Vì vậy các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đánh giá về hành vi phạm tội của các bị cáo Lý Văn L và Trần Văn B, HĐXX xét thấy: hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền được bảo vệ về thân thể, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của trẻ em là đối tượng được pháp luật ưu tiên bảo vệ; làm mất trật tự an ninh, xã hội tại địa phương. Do đó cần xử lý nghiêm, áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện. Tuy nhiên, các bị cáo Lý Văn L và Trần Văn B là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho các bị cáo được hưởng án treo cũng đủ điều kiện giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật của nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
[5]. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra các bị cáo Trần Văn B, Lý Văn L đã tự nguyện bồi thường tổn thất về danh dự, nhân phẩm cho cháu Hoàng Thúy K mỗi bị cáo là 40.000.000 đồng. Người bị hại, đại diện của người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đặt ra xem xét.
[6]. Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu xanh đen bạc, biển số 98E1-364.97 của ông Lý Văn L1 (bố đẻ của Lý Văn L); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại máy iphone 11 Promax, màu trắng, đã qua sử dụng của Trần Văn B; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại máy iphone8 Plus, màu vàng hồng, màn hình điện thoại đã nứt vỡ, đã qua sử dụng của Dương Quốc K1 không liên quan đến hành vi phạm tội. Ngày 10/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã quyết định trả lại cho chủ sở hữu là đúng quy định.
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, loại V2029, màu đen, đã qua sử dụng của Lý Văn L dùng nhắn tin quan hệ tình dục với cháu Hoàng Thúy K liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
[7]. Đối với anh Lý Văn L1, sinh năm 1980, trú tại thôn V, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang, là bố đẻ của bị cáo Lý Văn L. Quá trình điều tra xác định anh L1 không biết việc L mượn xe mô tô sau đó kèm cháu K đi quan hệ tình dục, nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý anh L1 là có căn cứ.
Đối với bà Hà Thị T1, sinh năm 1970 là chủ nhà nghỉ B1, địa chỉ ở thôn B, xã B, huyện L không biết việc Lý Văn L và cháu Hoàng Thúy K thuê phòng tại nhà nghỉ B1 để quan hệ tình dục nên nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với bà T1 là có căn cứ.
[8]. Về án phí: Các bị cáo Lý Văn L và Trần Văn B đều là người dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại, đại diện theo pháp luật của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 145; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47; Điều 65 Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi bổ sung; Các Điều 106, 135, 136, 331, 332, 333, 336, 337 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp tiền án phí, lệ phí Tòa án;
- Xử phạt bị cáo Lý Văn L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Thời gian thử thách 03 (ba) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 22/11/2024.
- Xử phạt bị cáo Trần Văn B 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Thời gian thử thách 03 (ba) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 22/11/2024.
Giao bị cáo Lý Văn L cho UBND xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Trần Văn B cho UBND xã L, huyện S, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
[3]. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, loại V2029, màu đen, đã qua sử dụng của Lý Văn L.
(Đặc điểm vật chứng của vụ án theo như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn).
[4]. Về án phí: Các bị cáo được miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm.iêQuyeets
[5]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Án xử công khai sơ thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Nguyễn Văn Sang |
Bản án số 145/2024/HS-ST ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
- Số bản án: 145/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: dsg
