Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH

TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 161/2024/HSST

Ngày: 20/ 11 / 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nghiêm Hoài Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Xuân Nguyên và ông Nguyễn Xuân Giao

Thư ký phiên toà: Ông Ninh Viết Tùng - Thư ký Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 149/2024/HSST ngày 30 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 160/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024 đối với:

Bị cáo: Nguyễn Đức C; giới tính: Nam; sinh ngày 03/10/ 1991 tại Hoà Bình; nơi cư trú: Khu C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; có bố là Nguyễn Đức T (đã chết) và mẹ là Nguyễn Thị T1; có vợ là Bùi Phương T2 (đã ly hôn) và 01 con (7 tuổi).

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: ngày 30/6/2011, bị TAND huyện Cao Phong xử phạt 24 tháng tù (treo) về tội Cố ý gây thương tích; ngày 30/8/2022 bị TAND quận Cầu Giấy xử phạt 10 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm CĐTS; ngày 28/6/2023 bị TAND quận Đống Đa xử phạt 18 tháng tù về tội trộm cắp tài sản.

Bị giam giữ từ ngày 20/9/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ – Công an thành phố H. Có mặt tại phiên toà.

- Bị hại: Nguyễn Thị Kim O, sinh năm 1978, trú tại: xóm N, xã M, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.

- Người có quyền lợi liên quan: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1960; tú tại: Khu C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có mối quan hệ quen biết với chị Nguyễn Thị Kim O trong thời gian làm nhân viên tại nhà nghỉ T3 ở xóm N, xã M, thành phố H, nên khoảng 17 giờ 30 phút ngày 21/8/2020, Nguyễn Đức C đi bộ từ chỗ làm sang quán của chị O hỏi mượn chiếc xe mô tô hiệu Honda Vision biển kiểm soát 28H1-169.10 và nói là để đi mua thức ăn. Sau khi mượn được xe, C điều khiển chiếc xe này đi đến khu công nghiệp Đ (P, Thái Nguyên) để thăm vợ. Quá trình di chuyển, C dừng lại đổ xăng và phát hiện trong cốp xe mô tô có 900.000 đồng trong ví đựng tiền, 01 mặt dây chuyền vàng, giấy tờ xe mô tô và một số giấy tờ khác. Khi đến chỗ trọ của vợ, C ở đó khoảng 1 tuần và tiêu hết số tiền trong ví của chị O. Khi tiêu hết tiền, C nảy sinh ý định đem bán chiếc xe của chị O để lấy tiền chi tiêu. C điều khiển chiếc xe mô tô đến một cửa hàng thuộc khu vực quận H, thành phố Hà Nội và bán xe cho một người không quen biết được 16.500.000 đồng rồi quay lại Thái Nguyên. C đã chi tiêu hết số tiền bán xe và gửi các giấy tờ trong cốp xe và mặt dây chuyền về cho mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị T1 để trả cho chị O. C bỏ trốn sau đó và bị bắt ngày 17/9/2024.

Kết luận định giá tài sản số 123/KL-HĐĐGTS ngày 22/9/2020 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố H kết luận: “01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda Vision, màu sơn đỏ, biển kiểm soát 28H1-169.10, ..., tình trạng xe đã qua sử dụng trị giá 19.000.000 đồng”

Cáo trạng số 148/CT-VKSTPHB ngày 30/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoà Bình truy tố Nguyễn Đức C về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo điểm b khoản 1 điều 175 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 điều 175, điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 38 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; chiếc xe mô tô bị cáo bán cho người không quen biết nay không thu hồi được nên bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường bằng tiền; bị cáo đã bồi thường xong trách nhiệm dân sự nên không đề cập; các tài sản khác bị hại đã nhận lại, không yêu cầu gì thêm nên Toà không đề cập giải quyết.

Bị cáo không có ý kiến bào chữa hay tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, vật chứng thu được cũng như các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án do đó có đủ cơ sở kết luận ngày 21/8/2020 bị cáo đã mượn chiếc xe mô-tô biển kiểm soát 28H1-169.10 của chị O, sau đó đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản đó bằng việc tự ý bán chiếc xe cho người khác dẫn đến không thu hồi trả lại cho chủ sở hữu được.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự trị an tại địa phương.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do muốn có tiền chi tiêu cá nhân nên bị cáo vẫn cố tình thực hiện dẫn đến thiệt hại cho bị hại số tiền 19.000.000 đồng.

[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ là: thành khẩn khai báo; tích cực bồi thường, khắc phục hậu quả; bị hại xin giảm nhẹ cho bị cáo; bị cáo có bố đẻ là người có công với nhà nước theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự, các tình tiết này được xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, hậu quả đã gây ra cần xét xử bị cáo về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo điểm b khoản 1 điều 175 BLHS, và cần có mức hình phạt tù tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

[4]. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 28H1-169.10 chưa thu hồi được, gia đình bị cáo đã bồi thường giá trị xe và số tiền 900.000 đồng bị cáo chiếm đoạt; các tài sản khác đã được thu hồi trả lại cho chủ sở hữu, nay bị hại không có yêu cầu, đề nghị gì thêm nên Tòa không đề cập giải quyết.

[5]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

- Tuyên bố: Nguyễn Đức C phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

- Xử phạt: Nguyễn Đức C: 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/9/2024.

3. Về án phí: Nguyễn Đức C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, Bị hại, Người có quyền lợi liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh HB;
  • - VKSND tỉnh HB;
  • - VKSND thành phố HB;
  • - Công an thành phố HB;
  • - Thi hành án hình sự TP HB;
  • - Chi cục T.H.A DS TPHB;
  • - Sở Tư pháp tỉnh HB;
  • - UBND thị trấn Cao Phong
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nghiêm Hoài Anh

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 161/2024/HSST ngày 20/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 161/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt 13 tháng tù, cho hưởng án treo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger