Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 145/2024/DS-ST

Ngày: 30/9/2024

V/v tranh chấp hợp đồng

tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên tòa: Ông Ngô Quang Ngọc Nhân.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Ngọc Phương – Công chức hưu trí;
  2. Bà Lê Yến Loan – Phó Bí thư Thành đoàn Thuận An.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nghĩa – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trang – Kiểm sát viên.

Vào các ngày 27 và 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 115/2024/TLST-DS ngày 08 tháng 04 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 136/2024/QĐXXST - DS ngày 29 tháng 7 năm 2024, giữa:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q (V1); trụ sở: Tầng 1 (tầng trệt) và Tầng B, Tòa nhà S - A P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:

Bà Nguyễn Thị Thanh V;

Ông Nguyễn Hoài N;

Ông Võ Anh T;

Cùng địa chỉ: B U, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh - là đại diện theo ủy quyền (giấy ủy quyền ngày 07/12/2023), bà V có mặt.

- Bị đơn: Bà Huỳnh Thị Thủy T1, sinh năm 1979 và ông Trịnh Vĩnh P, sinh năm 1979; địa chỉ: E khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Huỳnh Thị Thanh T2, sinh năm 1972 và ông Phạm Văn H, sinh năm 1982; cùng địa chỉ: D khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ngân hàng TMCP Q (gọi tắt là V1) đã ký kết với bà Huỳnh Thị Thủy T1 và ông Trịnh Vĩnh P các Hợp đồng tín dụng sau:

- Hợp đồng tín dụng số 2868659.21 ngày 15/4/2021, V1 cho bà Huỳnh Thị Thủy T1 và ông Trịnh Vĩnh P vay số tiền 1.100.000.000 đồng; Mục đích vay vốn: Tiêu dùng mua sắm vật dụng gia đình; Thời hạn vay: 96 tháng từ ngày tiếp theo ngày giải ngân đầu tiên của khoản vay đến ngày 29/4/2029; Lãi suất vay: lãi suất tại thời điểm giải ngân: 12.5%/năm, lãi suất sẽ được VIB chủ động điều chỉnh 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo từng sản phẩm cộng biên độ 4.1%/năm; Hoàn trả khoản tín dụng gốc: hàng tháng trả 11.458.000 đồng vào ngày 01, số tiền còn lại trả vào ngày cuối cùng. Ngày trả lãi: hàng tháng vào ngày 01, kỳ trả nợ đầu tiên vào ngày 01/6/2021. Ngày trả phí: theo quy định của V1 từng thời kỳ.

- Hợp đồng tín dụng số 3214055.21 ngày 15/4/2021, V1 cho bà Huỳnh Thị Thủy T1 và ông Trịnh Vĩnh P vay số tiền 3.900.000.000 đồng; Mục đích vay vốn: Bù đắp vốn tự có mua bất động sản tại thửa đất số 357, tờ bản đồ số 34, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Thời hạn vay: 240 tháng từ ngày tiếp theo ngày giải ngân dầu tiên của khoản vay đến ngày 29/4/2041; Lãi suất vay: lãi suất tại thời điểm giải ngân: 12.5%/năm, lãi suất sẽ được VIB chủ động điều chỉnh 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo từng sản phẩm cộng biên độ 4.1%/năm; hoàn trả khoản tín dụng gốc: hàng tháng trả 16.250.000 đồng vào ngày 01. Ngày trả lãi: hàng tháng vào ngày 01, kỳ trả nợ đầu tiên vào ngày 01/6/2021. Ngày trả phí: theo quy định của V1 từng thời kỳ.

- Hợp đồng tín dụng số 6434462.21 ngày 15/4/2021 với nội dung: VIB cho bà Huỳnh Thị Thủy T1 và ông Trịnh Vĩnh P vay số tiền 1.000.000.000 đồng; Mục đích vay vốn: Tiêu dùng mua sắm vật dụng gia đình; Thời hạn vay: 96 tháng từ ngày tiếp theo ngày giải ngân đầu tiên của khoản vay đến ngày 29/4/2029; Lãi suất vay: lãi suất tại thời điểm giải ngân: 12.5%/năm, lãi suất sẽ được VIB chủ động điều chỉnh 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo từng sản phẩm cộng biên độ 4.1%/năm; Hoàn trả khoản tín dụng gốc: hàng tháng trả 10.416.000 đồng vào ngày 01, số tiền còn lại trả vào ngày cuối cùng. Ngày trả lãi: hàng tháng vào ngày 01, kỳ trả nợ đầu tiên vào ngày 01/6/2021. Ngày trả phí: theo quy định của V1 từng thời kỳ.

Các khoản vay trên được đảm bảo bằng việc thế chấp tài sản là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 1230, tờ bản đồ số: 953, địa chỉ: KDC T, phường T, thị xã T (nay là thành phố T), tỉnh Bình Dương, tài sản gắn liền trên đất là nhà ở riêng lẻ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,

quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: BT 651550, số vào sổ cấp GCN: CH03544/TG do Ủy ban nhân dân thị xã T (nay là thành phố T), tỉnh Bình Dương cấp ngày 05/8/2014 cấp cho bà Huỳnh Thị Thanh T2 và ông Phạm Văn H. Theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số công chứng: 006678, quyển số: 26/2021 TP/CC-SCC/HĐGD Văn phòng C, tỉnh Bình Dương công chứng ngày 28/4/2021. Việc thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.

Thực hiện hợp đồng ngày 29/4/2021, V1 đã giải ngân toàn bộ số tiền vay cho bà Huỳnh Thị Thủy T1 và ông Trịnh Vĩnh P theo các Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 6434462(1).21, 3214055(1).21, 2868659(1).21 cùng ngày 29/4/2021. Tạm tính đến ngày 11/07/2024, bà Huỳnh Thị Thủy T1 và ông Trịnh Vĩnh P đã trả cho V1 số tiền tổng cộng là 1.774.349.731 đồng (trong đó: nợ gốc 697.718.700 đồng, nợ lãi 1.076.631.031 đồng) và còn nợ Ngân hàng TMCP Q số tiền là: 7.005.806.702 đồng (Bảy tỷ, không trăm lẻ năm triệu, tám trăm lẻ sáu nghìn, bảy trăm lẻ hai đồng), sau đó không thanh toán thêm bất kỳ khoản nào khác.

Do bà T1, ông P vi phạm nghĩa vụ thanh toán của mình nên V1 đã nộp đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:

Buộc bà Huỳnh Thị Thủy T1 và ông Trịnh Vĩnh P phải thanh toán ngay cho Ngân hàng TMCP Q số tiền tạm tính đến ngày 11/07/2024 là: 7.005.806.702 đồng (bảy tỷ, không trăm lẻ năm triệu, tám trăm lẻ sáu nghìn, bảy trăm lẻ hai đồng).

Ngân hàng TMCP Q được tiếp tục tính lãi, lãi quá hạn và phí phát sinh kể từ ngày 12/07/2024 cho đến khi bà Huỳnh Thị Thủy T1 và ông Trịnh Vĩnh P thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại các Hợp đồng tín dụng đã ký kết.

Trong trường hợp bà Huỳnh Thị Thủy T1 và ông Trịnh Vĩnh P không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Q, đề nghị Tòa án tuyên Ngân hàng TMCP Q có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm, cụ thể là: “Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 1230, tờ bản đồ số: 953, địa chỉ: KDC T, phường T, thị xã T (nay là thành phố T), tỉnh Bình Dương, tài sản gắn liền trên đất là nhà ở riêng lẻ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: BT 651550, số vào sổ cấp GCN: CH03544/TG do Ủy ban nhân dân thị xã T (nay là thành phố T), tỉnh Bình Dương cấp ngày 05/8/2014 đứng tên bà Huỳnh Thị Thanh T2 và ông Phạm Văn H theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số công chứng: 006678, quyển số: 26/2021 TP/CC-SCC/HĐGD Văn phòng C, tỉnh Bình Dương công chứng ngày 28/4/2021 và toàn bộ vật phụ, trang thiết bị kèm theo và phần giá trị công trình, diện tích cải tạo, đầu tư xây dựng thêm gắn liền với diện tích nhà đất đã thế chấp để thu hồi nợ vay cho Ngân hàng TMCP Q. Bất kỳ sự thay đổi, sửa chữa, nâng cấp nào của bà Huỳnh Thị Thanh T2 và ông Phạm Văn H đối với tài sản thế chấp làm tăng giá trị thực tế của tài sản thế chấp sẽ

được coi là bộ phận không thể tách rời thuộc tài sản thế chấp để thu hồi nợ vay cho Ngân hàng TMCP Q.

Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho bên vay vốn với Ngân hàng TMCP Q. Trường hợp nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán hết nợ thì bên vay vốn vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho Ngân hàng TMCP Q.

Chứng cứ nguyên đơn cung cấp: Hợp đồng tín dụng, đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ, hợp đồng thế chấp, hợp đồng mở thẻ tín dụng, bảng điều chỉnh lãi suất, sao kê tài khoản, lịch sử giao dịch (bản photo); giấy ủy quyền.

Quá trình giải quyết vụ án: Bị đơn ông Trịnh Vĩnh P và bà Huỳnh Thị Thủy T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, không đến Tòa án làm việc, không cung cấp văn bản trình bày ý kiến và tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn H và bà Huỳnh Thị Thanh T2 có mặt tại phiên tòa nhưng không cung cấp cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến cũng như tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập ngay tại phiên tòa, cụ thể yêu cầu bị đơn phải sử dụng tài sản của mình để thanh toán khoản nợ đối với nguyên đơn, không sử dụng tài sản của ông H bà T2 để xử lý nợ.

Ý kiến của Kiểm sát viên:

  • + Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt là tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông H bà T2 không cung cấp văn bản trình bày ý kiến, không đưa ra yêu cầu độc lập trước khi Tòa án mở phiên họp chứng cứ và hòa giải nên yêu cầu của ông H bà T2 tại phiên tòa là không phù hợp.
  • + Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền của Toà án và quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn để yêu cầu bị đơn thanh toán tiền nợ theo hợp đồng tín dụng do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Bị đơn có nơi cư trú tại địa chỉ E khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Do đó, quan hệ pháp luật trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Quá trình giải quyết vụ án, ông Trịnh Vĩnh P và bà Huỳnh Thị Thủy T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt là tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227 và 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn H và bà Huỳnh Thị Thanh T2 thừa nhận việc có ký kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để đảm bảo khoản vay cho bị đơn, việc ký kết hợp đồng thế chấp là tự nguyện, không bị ai ép buộc. Ngoài ra ông H, bà T2 còn trình bày yêu cầu độc lập, tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án từ lúc thụ lý vụ án đến khi Tòa án mở phiên tòa, ông H và bà T2 không nộp bất kỳ văn bản trình bày ý kiến cũng như tài liệu chứng cứ nào cho Tòa án. Theo quy định tại Điều 201 của Bộ luật tố tụng Dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền đưa ra yêu cầu độc lập trước thởi điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Do đó yêu cầu của ông H, bà T2 tại phiên tòa là không phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Ông Trịnh Vĩnh P và bà Huỳnh Thị Thủy T1 có vay vốn của Ngân hàng TMCP Q, hai bên có ký kết các hợp đồng tín dụng số 6434462.21, 3214055.21, 2868659.21 cùng ngày 15/4/2021 để vay vốn tổng cộng 6.000.000.000 đồng của Ngân hàng V1 phục vụ mục đích cá nhân. Nội dung thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết là tự nguyện, phù hợp với quy định pháp luật.

[2.2] Quá trình thực hiện hợp đồng, ngày 29/4/2021 V1 đã giải ngân toàn bộ số tiền vay cho bà Huỳnh Thị Thủy T1 và ông Trịnh Vĩnh P theo các Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 6434462(1).21, 3214055(1).21, 2868659(1).21 cùng ngày 29/4/2021. Bà Huỳnh Thị Thủy T1 và ông Trịnh Vĩnh P đã trả cho V1 số tiền tổng cộng là 1.774.349.731 đồng (trong đó: nợ gốc 697.718.700 đồng, nợ lãi 1.076.631.031 đồng), sau đó không thanh toán thêm bất kỳ khoản nào khác.

[2.3] Về tiền lãi, mức lãi suất: Hợp đồng tín dụng mà hai bên ký kết thuộc trường hợp vay có lãi, mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận là phù hợp với quy định tại Điểm a Khoản 5 Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

[2.4] Hợp đồng được ký kết giữa hai bên là hợp đồng song vụ, quyền và nghĩa vụ của các bên bị ràng buộc theo nội dung đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, quá trình thực hiện hợp đồng bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán của mình làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng, nếu bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán mặc dù chưa đến hạn thì nguyên đơn có quyền thực hiện các biện pháp thu hồi nợ trước hạn. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán toàn bộ số tiền gốc, tiền lãi là phù hợp với quy định tại các Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự và Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng.

[2.5] Về biện pháp bảo đảm và yêu cầu phát mãi tài sản:

Để đảm bảo cho các khoản vay của hợp đồng tín dụng, bị đơn đã thỏa thuận với ông Phạm Văn H và bà Huỳnh Thị Thanh T2 ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số: 1230, tờ bản đồ số: 953, địa chỉ: KDC T, phường T, thị xã T (nay là thành phố T), tỉnh Bình Dương, tài sản gắn liền trên đất là nhà ở riêng lẻ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: BT 651550, số vào sổ cấp GCN: CH03544/TG do Ủy ban nhân dân thị xã T (nay là thành phố T), tỉnh Bình Dương cấp ngày 05/8/2014 đứng tên bà Huỳnh Thị Thanh T2 và ông Phạm Văn H; được công chứng tại Văn phòng C, tỉnh Bình Dương và đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố T cùng ngày 28/4/2021. Như vậy, hợp đồng thế chấp nói trên phù hợp quy định pháp luật nên phát sinh hiệu lực và theo thỏa thuận tại Điều 6, Điều 9 của Hợp đồng thế chấp thì khi bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ thì nguyên đơn có quyền xử lý tài sản thế chấp, thỏa thuận này phù hợp với quy định tại các Điều 299, 318, 319, 323 của Bộ luật Dân sự.

[2.6] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[3] Lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 227, 228, 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
  • - Các Điều 299, 318, 319, 323, 463, 466 của Bộ luật Dân sự;
  • - Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng;
  • - Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn ông Trịnh Vĩnh P và bà Huỳnh Thị Thủy T1.
  2. Buộc ông Trịnh Vĩnh P và bà Huỳnh Thị Thủy T1 phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q số tiền tạm tính đến ngày 27/9/2024 là: 7.488.242.799 đồng (bảy tỷ, bốn trăm tám mươi tám triệu, hai trăm bốn mươi hai nghìn, bảy trăm chín mươi chín), trong đó: Nợ gốc 5.302.281.300 đồng; tiền lãi tạm tính đến 27/9/2024: lãi trong hạn 1.092.941.609 đồng; lãi quá hạn 980.043.534 đồng; theo các hợp đồng tín dụng sau:

    • - Hợp đồng tín dụng số 3214055.21 ngày 15/4/2021: Nợ gốc 3.607.500.000 đồng; tiền lãi trong hạn 694.183.639 đồng, lãi quá hạn 659.350.275 đồng.
    • - Hợp đồng tín dụng số 2868659.21 ngày 15/4/2021: Nợ gốc 882.269.300 đồng; tiền lãi trong hạn 199.670.675 đồng; lãi quá hạn 173.698.606 đồng.
    • - Hợp đồng tín dụng số 6434462.21 ngày 15/4/2021: Nợ gốc 812.512.000 đồng; tiền lãi trong hạn 199.087.294 đồng; lãi quá hạn 146.994.654 đồng.

    Kể từ ngày 28/9/2024, bị đơn phải tiếp tục thanh toán tiền lãi theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi thanh toán xong toàn bộ nợ gốc.

  3. Về phát mãi tài sản:
  4. Trường hợp ông Trịnh Vĩnh P và bà Huỳnh Thị Thủy T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Q, Ngân hàng TMCP Q có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm là:

    Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 1230, tờ bản đồ số 953 và tài sản gắn liền trên đất là 01 căn nhà cấp 3 hai tầng, kết cấu tường xây, cột gạch, nền gạch men, mái ngói, phía trước có mái che, cổng sắt, có tường rào bằng gạch bao quanh, tọa lạc tại khu dân cư T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: BT 651550, số vào sổ cấp GCN: CH03544/TG do Ủy ban nhân dân thị xã T (nay là thành phố T), tỉnh Bình Dương cấp ngày 05/8/2014 cho bà Huỳnh Thị Thanh T2 và ông Phạm Văn H.

    Trường hợp nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán hết nợ thì ông Trịnh Vĩnh P và bà Huỳnh Thị Thủy T1 có nghĩa vụ tiếp tục trả hết khoản nợ còn lại cho Ngân hàng TMCP Q.

  5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
  6. Ông Trịnh Vĩnh P và bà Huỳnh Thị Thủy T1 phải chịu 146.882.428 đồng (một trăm bốn mươi sáu triệu, tám tăm tám mươi hai nghìn, bốn trăm hai mươi tám đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

    Trả lại cho Ngân hàng TMCP Q số tiền 57.123.335 đồng (năm mươi bảy triệu, một trăm hai mươi ba nghìn, ba trăm ba mươi lăm đồng) theo biên lai thu

    tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001661 ngày 11/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

  7. Về quyền kháng cáo:
  8. Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND TP.Thuận An;,
  • - Chi cục THADS TP.Thuận An;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Quang Ngọc Nhân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 145/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 145/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: VTS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger