|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 145/2024/HS-ST
Ngày: 30-9-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Hiếu Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Vũ Ngọc Tiến;
- Ông Phạm Minh Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Sương – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Tuyết Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 124/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 136/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Danh T (tên gọi khác: C), sinh ngày: 03/10/1997 tại Cần Thơ; Giới tính: Nam; Dân tộc: Khmer; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: T, thị trấn C, huyện C, thành phố Cần Thơ; Nơi ở hiện tại: Số D đường số F, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12, con ông: Danh Thương (sinh năm 1975) và bà: Đào Thị B (sinh năm 1976); Hoàn cảnh gia đình: Con lớn nhất sinh năm 2020, con nhỏ nhất sinh năm 2024. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/3/2024. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Phạm Quốc T1 (tên gọi khác: Út C1), sinh ngày: 01/01/1973 tại Long An; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ A, khu phố B, thị trấn C, tỉnh Long An; Nơi ở hiện tại: Nhà số I, đường số D, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Chạy xe ôm; Trình độ học vấn: 05/12; Con ông: Phạm Văn B1 (chết) và bà: Nguyễn Thị Đ (chết); Hoàn cảnh gia đình: Vợ Phan Thị Hồng T2 (sinh năm 1978), 01 con sinh năm 2000; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/3/2024. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Chị Hoàng Thị M, sinh năm 1992 (vắng mặt).
Địa chỉ: D lô D, chung cư G, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tháng 01/2024, bà Hoàng Thị M liên hệ Phòng khám D, số F đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh để làm dịch vụ chăm sóc da mặt, khi được nhân viên tư vấn, bà M đồng ý sử dụng dịch vụ và thanh toán với số tiền 71.000.000 đồng. Khoảng 01 tuần sau, bà M không muốn tiếp tục sử dụng dịch vụ nên yêu cầu trả lại số tiền còn lại, nhưng phòng khám chỉ muốn hoàn lại 10% số tiền đã đưa, bà M không đồng ý. Sáng ngày 19/3/2024, bà M vào mạng xã hội Facebook tìm trang “Tìm người đòi nợ thuê” và quen một người có nick Facebook “Thần Sầu”, sau khi trao đổi người này giới thiệu tên “H” (không rõ lai lịch) đang ở ngoài Bắc, thỏa thuận hưởng 50% trên tổng số tiền đòi được và yêu cầu bà M ứng trước 10.000.000 đồng, bà M đồng ý cho người này số điện thoại nhưng chưa chuyển tiền.
Khoảng 14 giờ 20 phút ngày 19/3/2024, qua giới thiệu của “H1”, Danh T đi trên xe ô tô cùng với chị Hoàng Thị M đến Phòng khám để nhận tiền bồi thường của phòng khám cho chị Hoàng Thị M. Khi đến nơi, cả hai đi lên lầu 06 làm việc với anh Phạm Khanh T3 (là quản lý Phòng khám). Tại đây, anh T3 đồng ý hoàn trả cho chị M số tiền theo thỏa thuận là 37.810.000 đồng. Chị M cho tiền vào bóp rồi nói trả cho T số tiền 8.000.000 đồng, là tiền công cùng với chị M đến Phòng khám đòi tiền nhưng T không nhận và nói do có camera, T đi ra ngoài. Một lúc sau, T quay lại ngồi gần chị M rồi bất ngờ dùng tay phải giật chiếc bóp đang để trên đùi chị M và bỏ chạy theo cầu thang bộ tẩu thoát. Chị M đến Công an P1, Quận A trình báo sự việc bị chiếm đoạt 01 bóp bằng vải màu xanh bên
trong có khoảng 39.000.000 đồng và một số giấy tờ tùy thân. Công an P1, Quận A lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q xử lý theo thẩm quyền.
Qua điều tra truy xét, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã khởi tố, bắt tạm giam đối với Danh T và Phạm Quốc T1 về hành vi chiếm đoạt tài sản của chị M.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Danh T và Phạm Quốc T1 khai nhận: T và T1 (tên gọi khác: "Út Chín") là bạn bè quen biết ngoài xã hội. Ngày 19/3/2024, T sử dụng tài khoản Facebook tên "Trần Trúc P" tham gia vào nhóm "Tìm Người Đòi Nợ Thuê" để xem ai có nhu cầu thuê người đòi nợ thì nhận làm để kiếm tiền. Sau đó, 01 thành viên trong nhóm sử dụng tài khoản zalo tên H1 (T lưu tên “H2”) có số thuê bao 0587961888 nhắn tin qua tài khoản Zalo tên "Chùa Lửa" của T báo có bà Hoàng Thị M thuê đi đòi tiền và nhắn đến số F Đường C, Phường A, Quận A, nếu lấy được tiền sẽ trả trước 10.000.000 đồng, sau đó nhắn số điện thoại của chị M và nói sẽ điện thêm 04 người khác đến đó. Đến trưa cùng ngày, T đến trước Phòng khám gặp chị M và 04 người tên “Chuối”,“Tí”, “N”, “Mập” (không rõ lai lịch). Cả nhóm đi vào phòng khám, “N” ở ngoài. Chị M nói chuyện với đại diện phòng khám T4 sẽ trả số tiền khoảng 38.000.000 đồng và hẹn chị M vài ngày sau quay lại nhận tiền.
Khoảng 01 giờ sáng ngày 24/3/2024, T1 gọi điện thoại cho T tâm sự mới đi cầm xe môtô hiệu Nouvo lấy 2.000.000 đồng, T không nói gì. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, T gọi điện thoại rủ T1 đi cùng đến khu chung cư G, đường Đ, thành phố T để gặp bà M trao đổi việc đi đòi tiền và hứa sẽ cho T1 tiền chuộc xe và mua 01 chiếc xe đạp cho con của T1, T1 đồng ý đi cùng. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, cả hai gặp bà M tại công viên chung cư G, bàn việc lấy tiền tại Phòng khám. Khoảng 13 giờ 15 phút cùng ngày, T1 điều khiển xe môtô biển số: 54Y1-1464 của T cùng bà M và T đi chung xe ôtô đến Phòng khám. T và chị M đi vào bên trong Phòng khám; T1 đứng phía bên kia đường trước Phòng khám chờ. Do là ngày chủ nhật bộ phận kế toán không làm việc, hẹn bà M ngày mai quay lại lấy tiền, cả ba người ra về.
Tối ngày 24/3/2024, T và T1 gặp nhau uống nước tại công viên M, thành phố T, T nói với T1 hoàn cảnh gia đình khó khăn, vợ mới sinh, không có tiền đóng tiền trọ và rủ T1 ngày mai sau khi bà M nhận được tiền từ Phòng khám, T sẽ giật tiền bỏ chạy ra ngoài, T1 điều khiển xe môtô đợi sẵn bên ngoài chờ, khi T chạy ra lên xe. T1 chờ sẵn sẽ chở T tẩu thoát. T1 đồng ý.
Đến khoảng 13 giờ ngày 25/3/2024, T1 điều khiển xe mô tô biển số 54Y1-1464 của T, chạy đến Phòng khám; T đi cùng xe ôtô với chị M. Khi đến nơi T nói T1 đứng chờ gần phòng khám, khi nào T gọi điện thì chạy xe đến đón T. Sau đó, T cùng bà M đi lên lầu 6 của Phòng khám để làm việc. Sau khi nhận được tiền, bà M đếm và trả số tiền thỏa thuận là 8.000.000 đồng cho T nhưng T kiếm cớ chưa nhận tiền liền và đi ra ngoài nhắn tin thông báo cho T1 chuẩn bị, nổ máy xe chờ sẵn trước Phòng khám để chở T tẩu thoát khi chiếm đoạt tiền của chị M. Sau đó, T quay vào ngồi gần bà M, dùng tay phải giật chiếc bóp của bà M và chạy theo cầu thang bộ xuống đất, lên xe môtô của T1 đang chờ sẵn rồi cả hai tăng ga tẩu thoát. T1 chở T đến quán cà phê trên đường P, quận G (không rõ địa chỉ) uống nước. Tại đây, T lấy chiếc bóp của bà M ra kiểm tra thấy có căn cước công dân của bà M, thẻ ngân hàng và tiền mặt, Thành đếm được 39.000.000 đồng, còn một ít tiền lẻ thì T không đếm. T lấy tiền mua vé số hết 400.000 đồng. Sau đó, T1 chở T đến tiệm cầm đồ trên đường K, thành phố T, chuộc xe cho T1 hết 2.150.000 đồng. Sau đó, T, T1 mỗi người điều khiển một xe mô tô chạy đến tiệm sửa xe trên đường N, thành phố T, để T sửa xe. T đưa cho T1 1.000.000 đồng nhờ T1 chờ khi nào sửa xong xe thì lấy xe dùm T. Sau đó, T1 chở T đến gặp “Tí” (chung nhóm đòi nợ) đưa 2.000.000 đồng; T cùng với T1 đi ăn hết 535.000 đồng và đưa cho T1 khoảng 200.000 đồng để tiêu xài. Đến tối cùng ngày, theo yêu cầu của “H2”, T chạy ra công viên chung cư M gặp “Chuối” đưa 2.000.000 đồng, sau đó T về nhà thì N điện hỏi T lấy được tiền chưa, T trả lời rồi nên T nói phần còn lại của Nghĩa là 3.000.000 đồng (bao gồm N, M1) và N gửi số tài khoản ngân hàng qua tin nhắn cho T, sau đó T ra cửa hàng bán nước nhờ chuyển số tiền 3.000.000 đồng đến tài khoản số 19034072827018 tên Lương Trọng N ngân hàng T5, phí chuyển tiền hết 30.000 đồng. Sau đó, T1 tiếp tục chở T đi mua xe đạp cho con của T1 hết 1.000.000 đồng. Số tiền 27.500.000 đồng T để trong người. Đến 00 giờ ngày 26/3/2024, T và T1 chở nhau trên đường thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q mời làm việc. T đã giao nộp số tiền 27.500.000 đồng. T chỉ bàn bạc với anh T1 việc chiếm đoạt tiền của chị M, ngoài ra không có bàn bạc và không nói cho “Chuối”, “Tí”, “N”, “Mập” việc chiếm đoạt tiền của chị M.
Cơ quan điều tra đã hai lần có công văn gửi ngân hàng T5 yêu cầu cung cấp thông tin số tài khoản 19034072827018 mang tên Lương Trọng N nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả trả lời.
Lời khai nhận tội của bị cáo, phù hợp với camera ghi nhận vụ việc, biên bản nhận dạng, đối chất và các tài liệu chứng cứ khác mà Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q thu thập được.
Vật chứng vụ án:
- 01 USB chứa nội dung ghi hình tại phòng khám, ghi nhận hành vi phạm tội của bị cáo T và T1 (kèm theo hồ sơ vụ án).
- 01 điện thoại di động hiệu Redmi, màu đen - là tài sản T1 sử dụng vào việc phạm tội.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S, màu trắng - là tài sản T sử dụng vào việc phạm tội.
- 01 xe gắn máy hiệu Honda Wave biển số: 54Y1-1464; số máy: HC12E-0102380; Số khung: RLHHC12068Y054557. Kết quả xác minh xe, do bà Hứa Thị N1, cư ngụ: 31 KP2, T, Quận A, đứng tên đăng ký. Bà Nguyên K đã bán chiếc xe từ lâu và không nhớ bán cho ai, giá bao nhiêu. Bị cáo T khai, thông qua mạng xã hội mua xe vào năm 2020 của 01 người đàn ông (không rõ lai lịch), với giá 2.000.000 đồng, khi mua đưa giấy tờ xe nhưng không làm hợp đồng mua bán. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng đến nay chưa có kết quả.
- 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Nouvo biển số: 59X1-10552; số máy: 5P11374844; Số khung: RLCN5P110BY374831. Kết quả xác minh xe do ông Tưởng Đăng V, cư ngụ: 200E/3 KP3, H, TP ., đứng tên đăng ký. Qua xác minh không có đăng ký cư trú và thực tế cư trú tại đây. Bị cáo T1 khai, thông qua mạng xã hội mua xe vào năm 2023 của 01 người đàn ông (không rõ lai lịch) với giá 4.700.000 đồng, khi mua nhận xe không làm hợp đồng mua bán. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng đến nay chưa có kết quả.
- 01 nón kết bằng vải màu đen, trắng; 01 áo sơ mi tay dài, sọc ca rô màu đỏ, trắng; 01 đôi dép nhựa màu vàng – là trang phục T mặc khi phạm tội.
- 01 xe đạp màu đỏ đen, do hai bị cáo T và T1 dùng tiền phạm tội để mua.
Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 có quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 chờ xử lý.
- Số tiền 27.500.000 đồng – là tài sản do T và T1 chiếm đoạt; 01 cái bóp màu xám; số tiền 2.150.000 đồng (do anh Phan Tất Đ1, là chủ tiệm cầm đồ tự nguyện giao nộp). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã trao trả cho bị hại là bà Hoàng Thị M.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Hoàng Thị M không yêu cầu bồi thường dân sự và yêu cầu được nhận lại chiếc xe đạp màu đỏ đen do hai bị cáo T, T1 dùng tiền chiếm đoạt của bà để mua.
Tại bản Cáo trạng số 119/CT-VKSQ10 ngày 16 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Danh T, Phạm Quốc T1 về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo đúng theo nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, bị hại, nêu lên tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã khắc phục hậu quả của các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
- Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Danh T mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Miễn hình phạt bổ sung.
- Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Phạm Quốc T1 mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Miễn hình phạt bổ sung.
Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.
- Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Danh T, Phạm Quốc T1 không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến
hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
[2] Tại Cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình, qua lời khai nhận của các bị cáo, đối chiếu với lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 13 giờ ngày 24/3/2024, tại lầu F phòng khám Cao Kim số F đường C, Phường A, Quận A, bị cáo Danh T đã có hành vi công khai, bất ngờ chiếm đoạt 01 chiếc bóp bên trong có số tiền 39.000.000 đồng của chị Hoàng Thị M, rồi nhanh chóng chạy ra chỗ Phạm Quốc Tuấn đứng chờ chở tẩu thoát. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội về tội "Cướp giật tài sản" theo khoản 1 Điều 171 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Hành vi phạm tội của các bị cáo rất táo bạo, liều lĩnh và xem thường pháp luật. Vì để có tiền tiêu xài nên bị cáo cố ý thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác một cách nhanh chóng và bất ngờ. Xét đây là vụ án đồng phạm mang tính chất giản đơn, bị cáo T là người rủ rê, thực hiện hành vi phạm tội; bị cáo T1 giúp sức chở bị cáo T tẩu thoát. Hành vi phạm tội của các bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an và an toàn xã hội; xâm hại đến tài sản hợp pháp của người bị hại. Do vậy hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo gây ra, cụ thể cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục đối với những người thực hiện hành vi tương tự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tệ nạn tại địa phương.
Về tình tiết tăng nặng: Không có
Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo T có thêm tình tiết giảm nhẹ đã khắc phục hậu quả. Do vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tương ứng với từng bị cáo để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Ngoài ra các bị cáo phạm tội lần đầu nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo phạm tội lần đầu, có hoàn cảnh khó khăn nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung.
[4] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:
Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015
- Về trách nhiệm dân sự: Không có
- Tịch thu, sung nộp ngân sách Nhà nước:
- 01 điện thoại di động hiệu Redmi, màu đen - là tài sản T sử dụng vào việc phạm tội.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S, màu trắng - là tài sản T1 sử dụng vào việc phạm tội.
- Tiêu hủy: 01 nón kết bằng vải màu đen, trắng; 01 áo sơ mi tay dài, sọc ca rô màu đỏ, trắng; 01 đôi dép nhựa màu vàng – là trang phục T mặc khi phạm tội.
- 01 xe đạp màu đỏ đen do hai bị cáo T và T1 dùng tiền phạm tội để mua, trả lại cho chị Hoàng Thị M.
- 01 xe gắn máy hiệu Honda Wave biển số: 54Y1-1464; số máy: HC12E-0102380; Số khung: RLHHC12068Y054557. Kết quả xác minh xe, do bà Hứa Thị N1, cư ngụ: 31 KP2, T, Quận A, đứng tên đăng ký. Bà Nguyên K đã bán chiếc xe từ lâu và không nhớ bán cho ai, giá bao nhiêu. T khai, thông qua mạng xã hội mua xe vào năm 2020 của 01 người đàn ông (không rõ lai lịch), với giá 2.000.000 đồng, khi mua đưa giấy tờ xe nhưng không làm hợp đồng mua bán. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng đến nay chưa có kết quả và 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Nouvo biển số: 59X1-10552; số máy: 5P11374844; Số khung: RLCN5P110BY374831. Kết quả xác minh xe do ông Tưởng Đăng V, cư ngụ: 200E/3 KP3, H, TP ., đứng tên đăng ký. Qua xác minh không có đăng ký cư trú và thực tế cư trú tại đây. Bị cáo T1 khai, thông qua mạng xã hội mua xe vào năm 2023 của 01 người đàn ông (không rõ lai lịch) với giá 4.700.000 đồng, khi mua nhận xe không làm hợp đồng mua bán. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng đến nay chưa có kết quả, trong khi chiếc xe trên lại là phương tiện dùng vào việc phạm tội; do vậy giao cho Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành thông báo trong thời hạn nhất định, nếu không có chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp liên hệ nhận, thì đề nghị căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và Điều 228 Bộ luật Dân sự năm 2015, tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 02 chiếc xe trên.
[5] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 171; Điều 17; Điều 38; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Danh T 02 (hai) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 29/3/2024.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 171; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Phạm Quốc T1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 29/3/2024.
Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015
- Lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 USB chứa nội dung ghi hình tại phòng khám, ghi nhận hành vi phạm tội của bị cáo T và T1.
- Tịch thu, sung nộp ngân sách Nhà nước:
- 01 điện thoại di động hiệu Redmi, màu đen.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S, màu trắng.
- Giao Chi cục thi hành dân sự Q, Thành phố Hồ Chí Minh thông báo với thời hạn 12 tháng đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Wave biển số: 54Y1-1464; số máy: HC12E-0102380; Số khung: RLHHC12068Y054557 và 01 xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo biển số: 59X1-10552; số máy: 5P11374844; Số khung: RLCN5P110BY374831, để chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp (nếu có) đến nhận, trong thời hạn trên kể từ ngày đăng báo mà không có chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp liên hệ nhận thì tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
- Tiêu hủy: 01 nón kết bằng vải màu đen, trắng; 01 áo sơ mi tay dài, sọc ca rô màu đỏ, trắng; 01 đôi dép nhựa màu vàng.
- Trả lại: 01 xe đạp màu đỏ đen cho chị Hoàng Thị M.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/9/2024)
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Buộc các bị cáo mỗi người phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng;
2. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Hiếu Hạnh |
Bản án số 145/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm về tội cướp giật tài sản
- Số bản án: 145/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Danh T phạm tội cướp giật tài sản
