Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HẢI CHÂU, TP.ĐÀ NẴNG

Bản án số: 145/2024/HSST

Ngày: 27-9-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU-TP. ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Mỹ Dung

Các hội thẩm nhân dân: + Ông Phạm Công Lương – Cán bộ hưu trí.

+ Ông Phạm Xoa – Phó Chủ tịch Hội từ thiện và Bảo vệ quyền trẻ em quận Hải Châu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ánh Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, TP. Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quốc - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 114/2024/HSST ngày 30 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn C. Tên gọi khác: Không

Sinh ngày: 23/11/2001(thời điểm phạm tội 17 tuổi 06 tháng 20 ngày), tại tỉnh Quảng Bình; Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; Chỗ ở: L, T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Quốc tịch:Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 11/12; Con ông: Nguyễn Văn T (SN: 1974) và bà Phạm Thị T1 (SN 1979). Gia đình bị cáo có 02 anh em bị cáo là con thứ hai.

Tiền án, tiền sự : Không.

Nhân thân : Bản án số 02/HSST ngày 04.3.2020 của Toà án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình, xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 BLHS.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam ngày 22/5/2024 hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận H, có mặt tại phiên tòa.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn C: ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1974 và bà Phạm Thị T1, sinh năm: 1979. Cùng địa chỉ: Thôn T, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình, bà T1 có mặt, ông T vắng mặt.

- Người bào chữa của bị cáo Nguyễn Văn C: Ông Hoàng Trọng T2 – Luật sư Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đ. Địa chỉ: Tầng E Tòa nhà L, Số A X, Phường H, Quận H, Thành phố Đà Nẵng, có mặt.

- Người bị hại:

  1. Bà Bùi Thị Mộng T3, sinh năm: 1992. Địa chỉ: Số C H, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.
  2. Ông Nguyễn Văn Q. Sinh năm: 1958. Địa chỉ: tổ A H, quận C, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Quỳnh L, sinh năm: 1988. Địa chỉ: K T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiên tiêu xài cá nhân, Nguyễn Văn C đã thực hiện hai lần trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:

Lần 1: Khoảng 03 giờ ngày 13/6/2019, Nguyễn Văn C đi đến trước quán N, nằm trên đường N, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng do chị Bùi Thị Mộng T4 làm chủ, C quan sát vào bên trong thấy không có người, nên đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, C đến quầy tính tiền của quán, trộm cắp các tài sản sau: 01 laptop hiệu Vaio màu bạc, 10 gói thuốc lá hiệu Craven màu đỏ, 01 gói thuốc lá hiệu Craven màu bạc, 02 gói thuốc lá Marlboro màu trắng, 05 gói thuốc lá 555 Gold màu xanh, 05 gói thuốc lá Dunhill màu xanh lá, 04 gói thuốc lá 555 màu bạc, 10 gói thuốc lá 555 và 15 gói thuốc lá hiệu White Horse.

Lần 2: Khoảng 07 giờ cùng ngày, C tiếp tục đi trên đường N, khi đến trước quán N1 thì phát hiện 01 xe mô tô Honda Wave S, biển số 43M1-7462 của chị Nguyễn Thị Quỳnh L đang để trước quán không có người trông giữ, chìa khóa vẫn còn gắn trên xe, C đến lấy xe và điều khiển chạy về hướng đường N, TP .. C có dừng lại một tiệm tạp hóa bên đường (không nhớ rõ địa chỉ) bán lại 10 gói thuốc lá 555 ngoại và 15 gói thuốc lá hiệu White Horse với giá 600.000 đồng, C đã tiêu xài cá nhân hết 280.000 đồng. Đến 22 giờ cùng ngày, C bị Công an phường T mời lên làm việc và thừa nhận hành vi trộm cắp của mình. Sau khi được cho về, C đã đi khỏi địa phương. Đến ngày 22/5/2024, C đến Cơ quan CSĐT Công an quận H để đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng thu giữ từ Nguyễn Văn C: 01 máy Laptop Vaio màu bạc; Thuốc lá còn nguyên tem: 02 gói thuốc lá Marlboro màu trắng, 10 gói thuốc lá hiệu Craven màu đỏ, 01 gói thuốc lá hiệu Craven màu bạc, 05 gói thuốc lá 555 xanh, 04 gói thuốc lá 555 bạc, 05 gói thuốc lá Dunhill; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S màu đỏ, biển số 43M1-7462; 320.000 đồng; 01 túi xách vải màu nâu.

Theo Kết luận định giá tài sản số 101/KL-HĐĐG ngày 17/7/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự, UBND quận H, kết luận:

  • 01 xe mô tô Honda Wave S, màu đỏ, biển số 43M1-7462, đã qua sử dụng, trị giá 8.000.000 đồng.
  • 01 laptop Sony Vaio, model PCG-61315L, màu bạc, đã qua sử dụng, trị giá 2.000.000 đồng.
  • 10 gói thuốc lá hiệu Craven màu đỏ, nguyên seal, chưa qua sử dụng, trị giá 200.000 đồng.
  • 01 gói thuốc lá hiệu Craven màu bạc, nguyên seal, chưa qua sử dụng, trị giá 11.000 đồng.
  • 02 gói thuốc lá Marlboro màu trắng, nguyên seal, chưa qua sử dụng, trị giá 50.000 đồng.
  • 05 gói thuốc lá 555 Gold màu xanh, nguyên seal, chưa qua sử dụng, trị giá 150.000 đồng.
  • 05 gói thuốc lá Dunhill màu xanh lá, nguyên seal, chưa qua sử dụng, trị giá 185.000 đồng.
  • 04 gói thuốc lá 555 màu bạc, nguyên seal, chưa qua sử dụng, trị giá 140.000 đồng
  • 10 gói thuốc lá 555, nguyên seal, chưa qua sử dụng, trị giá 360.000 đồng
  • 15 gói thuốc lá hiệu White Horse, nguyên seal, chưa qua sử dụng, trị giá 375.000 đồng.

Tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là: 11.471.000 đồng.

Theo kết luận giám định pháp y tâm thần số 1181 ngày 10.7.2024 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền trung đối với Nguyễn Văn C kết luận:

* Trước thời điểm phạm tội:

Về y học: Tâm thần phân liệt thể Paranoid, tiến triển liên tục (F20.03)

Về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi

* Tại thời điểm phạm tội:

Về y học: Tâm thần phân liệt thể Paranoid, tiến triển liên tục(F20.03)

Về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi

* Thời điểm hiện tại:

Về y học: Tâm thần phân liệt thể Paranoid, tiến triển từng giai đoạn có thuyên giảm (F20.03) + Hội chứng sau chấn động não mức độ suy nhược chấn thương (F07.2)

Về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi

Tại phiên tòa:

Những người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của họ có tại hồ sơ vụ án và bị cáo xác nhận lời khai của những người này là đúng.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị HĐXX: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; điểm q, s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 điều 52, Điều 91, 101 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 06 (Sáu) tháng đến 09 (Chín) tháng tù. Do điều kiện hoàn cảnh của bị cáo khó khăn nên không đề xuất áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Những người bị hại đã nhận lại tài sản và không có ý kiến yêu cầu gì nên không đề cập đến.

Các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa đã được HĐXX công bố lời khai tại phiên tòa và bị cáo thừa nhận phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn C thống nhất quan điểm luận tội của Vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điểm, khoản, điều luật. Tuy nhiên, luật sư phân tích thêm về điều kiện hoàn cảnh của bị cáo C, bản thân bị cáo là người chưa thành niên phạm tội, bị cáo bị bệnh nên hạn chế về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, bị cáo tự ra đầu thú, bị cáo phạm tội cũng một phần do người bị hại giữ chứng minh nhân dân của bị cáo và bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn nên nên đề nghị HĐXX xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, e, h, q khoản 1 Điều 51 cho bị cáo C để đảm bảo sự khoan hồng của pháp luật.

Bị cáo không trình bày ý kiến tự bào chữa bổ sung và không có ý kiến tranh luận gì.

Lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với xã hội làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận Hải Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện: Do cần tiền tiêu xài cá nhân, vào ngày 13.6.2019, Nguyễn Văn C đến quán N, nằm trên đường N, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng trộm cắp 01 laptop hiệu Vaio màu bạc, 10 gói thuốc lá hiệu Craven màu đỏ, 01 gói thuốc lá hiệu Craven màu bạc, 02 gói thuốc lá Marlboro màu trắng, 05 gói thuốc lá 555 Gold màu xanh, 05 gói thuốc lá Dunhill màu xanh lá, 04 gói thuốc lá 555 màu bạc, 10 gói thuốc lá 555 và 15 gói thuốc lá hiệu White Horse của chị Bùi Thị Mộng T4, tổng trị giá là 3.471.000 đồng. Sau đó, C tiếp tục đi đến quán N1 Hậu Giang đường N, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng, trộm cắp 01 xe mô tô Honda Wave S, biển số 43M1-7462 của chị Nguyễn Thị Quỳnh L, có trị giá là 8.000.000 đồng. Tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là: 11.471.000 đồng.

[3] Đánh giá tính chất vụ án, vai trò, mức độ hành vi phạm tội đối với bị cáo như sau: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và vật chứng thu giữ, Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến trật tự quản lý Nhà nước đối với tài sản do phạm tội mà có, gây tâm lý hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân.

Bị cáo Nguyễn Văn C đã lợi dụng sự sơ hở trong quản lý tài sản của người bị hại thực hiện việc chiếm đoạt tài sản, tổng trị giá tài sản bị cáo C chiếm đoạt là 11.471.000đ nên hành vi của bị cáo phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như Cáo trạng số 115/CT-VKS ngày 29/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1] Bị cáo Nguyễn Văn C là người có nhân thân xấu, bị cáo đã bị Toà án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình, xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 BLHS tại Bản án số 02/HSST ngày 04.3.2020.

[4.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo 02 lần thực hiện hành vi phạm tội, mỗi lần đều trộm cắp tài sản trị giá trên 2.000.000đ nên thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội nhiều lần quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

[4.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo bị bệnh nên hạn chế về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s, q khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra, khi phạm tội, bị cáo C là người chưa thành niên nên cần áp dụng Điều 91, 101 Bộ luật hình sự để cân nhắc mức hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

Do bị cáo có bệnh, không có việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với ý kiến của người bào chữa cho bị cáo đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm e, h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, HĐXX xét thấy bị cáo không thoả mãn các quy định này nên không áp dụng.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đều đã nhận lại tài sản và không có ý kiến yêu cầu gì nên HĐXX không đề cập giải quyết.

[6] Về xử lý vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an quận H đã trả lại cho chị Nguyễn Thị Quỳnh L 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S màu đỏ, biển số 43M1-7462; Trả cho chị Bùi Thị Mộng T4 01 máy Laptop Vaio màu bạc, 02 gói thuốc lá Marlboro màu trắng, 10 gói thuốc lá hiệu Craven màu đỏ, 01 gói thuốc lá hiệu Craven màu bạc, 05 gói thuốc lá 555 xanh, 04 gói thuốc lá 555 bạc, 05 gói thuốc lá Dunhill và 320.000 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX không đề cập đến.

[7] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Căn cứ Khoản 1 Điều 173; điểm q, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn C 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 22/5/2024.

  2. Về án phí HSST: 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng y) bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu.
  3. Về quyền kháng cáo: Người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo được kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các điều 6,7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi Hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP Đà Nẵng;
  • - Công an quận Hải Châu;
  • - Chi cục THADS quận Hải Châu;
  • - Cơ quan THAHS quận Hải Châu;
  • - Trại giam Công an TP Đà Nẵng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Thị Mỹ Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 145/2024/HSST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, TP.ĐÀ NẴNG về hình sự: trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 145/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, TP.ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn C phạm tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger