Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC LINH

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 145/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 27/9/2024

“tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Thuận

Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Lê Hoàng Phúc

2.Ông Nguyễn Đức Binh

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Tốt - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 352/2024/TLST-HNGĐ, ngày 12 tháng 8 năm 2024; về “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 301/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 9 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 222/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 12 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thanh Thảo, sinh năm: 1967
  2. Nơi cư trú: số 287, đường Mê Pu-Đa Kai, thôn 3, xã Sùng Nhơn, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

  3. Bị đơn: Ông Đặng Văn Sơn, sinh năm: 1959
  4. Nơi cư trú: số 287, đường Mê Pu-Đa Kai, thôn 3, xã Sùng Nhơn, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

1

Tại phiên tòa: nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 08/7/2024, biên bản tự khai, biên bản không hòa giải được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, nguyên đơn bà Trần Thị Thanh Thảo trình bày: Bà và ông Sơn tự nguyện tìm hiểu về chung sống với nhau từ năm 1985, không đăng ký kết hôn, chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì xẩy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông Sơn thường xuyên đánh đập bà nhiều lần; ngoài ra ông, bà còn mâu thuẫn về việc quản lý tài chính trong gia đình. Hiện tại ông, bà đã ly thân từ năm 2021 cho đến nay.

-Về con chung: ông, bà có 5 con chung, các con đã trên 18 tuổi, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

-Về tài sản chung và nợ chung: ông, bà tự thỏa thuận

Theo biên bản lấy lời khai ngày 28/8/2024, ông Đặng Văn Sơn trình bày:

Ông và bà Thảo tự nguyện tìm hiểu về chung sống với nhau từ năm 1984. Ông, bà không đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống vợ chồng có mâu thuẫn, tuy nhiên mâu thuẫn không lớn. Ông hiện tại vẫn đang chăm lo kinh tế cho gia đình, con bà Thảo làm nội trợ và thường xuyên đi vắng nhà, mà ông không hiểu nguyên nhân vắng nhà. Ông cũng không hiểu lý do bà Thảo làm đơn khởi kiện ly hôn. Nếu bà Thảo đã làm đơn khởi kiện ly hôn thì ông đề nghị Tòa án cứ giải quyết ly hôn cho bà Thảo, ông không níu kéo người muốn ra đi.

Về tài sản chung và nợ chung: ông, bà tự thỏa thuận

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh:

- Về tố tụng:

  • + Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân thủ theo đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự.
  • + Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.
  • + Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Bộ luật tố

2

tụng dân sự năm 2015 về quyền và nghĩa vụ của đương sự. Bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xử cho bà Trần Thị Thanh Thảo được ly hôn với ông Đặng Văn Sơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện đề ngày 08/7/2024 Tòa án xác định đây là vụ án: “Tranh chấp ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]Về thẩm quyền: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận theo quy định tại khoản 1, Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3]Về thủ tục tố tụng: Kể từ ngày Tòa án nhân dân huyện Đức Linh thụ lý vụ án đến nay, Tòa án đã thực hiện đúng quy định về việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho đương sự được quy định tại chương X Bộ luật tố tụng dân sự.

Bà Thảo có đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 04/9/2024; Ông Đặng Văn Sơn biết bà Thảo khởi kiện ly hôn nhưng ông cố tình không có mặt theo sự triệu tập của Tòa. Chứng tỏ ông đã tự từ bỏ quyền tham gia tố tụng của mình. Vì vậy Tòa án đưa vụ án ra xét xử là hoàn toàn đúng theo quy định của pháp luật. Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, bị đơn Đặng Văn Sơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Theo quy định của khoản 1, điểm b, khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng pháp luật.

3

[4] Về hôn nhân: Bà Trần Thị Thanh Thảo và ông Đặng Văn Sơn tự nguyện tìm hiểu về chung sống từ năm 1984. Thời điểm hai người chúng sống với nhau là trước ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực nên quan hệ hôn nhân giữa ông bà vẫn được xem là quan hệ vợ chồng.

Bà Thảo và ông Sơn chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông bà mâu thuẫn về tiền bạc, ông Sơn lại đánh bà nhiều lần. Do đó cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, bà Thảo không còn tình cảm với ông Sơn nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Bản thân ông Sơn sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã nhiều lần tổ chức phiên họp, hòa giải đoàn tụ để các bên quay về chung sống với nhau nhưng không tham gia, chứng tỏ ông Sơn cũng không còn tha thiết gì cuộc sống hôn nhân với bà Thảo. Trong khi đó bà Thảo cũng cương quyết ly hôn. Tòa án cũng đã kiên trì hòa giải cho vợ chồng ông bà đoàn tụ nhưng không thành, cho thấy “hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được”. Nếu có tiếp tục kéo dài cũng không đem lại lợi ích cho ông bà. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Thảo là đúng theo quy định tại Điều 51 và khoản 1, Điều 56 Luật Hôn Nhân và Gia đình; khoản 1, 3 Điều 4 Nghị Quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm Phán tòa án nhân dân tối cao.

[5] Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6]Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ nghị quyết về án phí và lệ phí của Ủy ban thường vụ Quốc Hội số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 thì bà Thảo là người khởi kiện ly hôn nên bà phải chịu toàn bộ án phí ly hôn theo luật định.

[7] Xét ý kiến của Kiểm Sát Viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng pháp luật. Phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án là có căn cứ và phù hợp vợi nội dung vụ án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, khoản 1, điểm b, khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228, Điều 244, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự của năm 2015; Áp dụng Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 26 luật Thi hành án dân sự; khoản 1, 3 Điều 4 Nghị Quyết số:

4

01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm Phán tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016.Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của bà Trần Thị Thanh Thảo:

  1. Về hôn nhân: Bà Trần Thị Thanh Thảo ly hôn ông Đặng Văn Sơn
  2. Về án phí DSST: Bà Trần Thị Thanh Thảo phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0004765, ngày 12 tháng 8 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh. Bà Thảo đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ, để Tòa án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Đức Linh;
  • - Thi hành án DS huyện Đức Linh;
  • - UBND xã Sùng Nhơn
  • - Các đương sự;.
  • -Lưu hồ sơ, quyết định./.

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Đỗ Xuân Thuận

5

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 145/2024/HNGĐ-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 145/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger