|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 145/2024/HNGĐ-ST Ngày: 24-9-2024 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tất Thể; ông Bùi Văn Hồng
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Soan - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Lê - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024 tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 104/2024/TLST-HNGĐ, ngày 28 tháng 5 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 131/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 04/9/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lưu Thị Thu H, sinh năm 1993; địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn N, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện đang lao động tại Đài Loan tại Số F, đường H, phường V, quận Q, thành phố Đ, Đài Loan. Có đơn xin vắng mặt
- Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Trần Thanh M, sinh năm 1988; địa chỉ: A N, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn I, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Có đơn xin vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, lời khai có tại hồ sơ vụ án, chị Lưu Thị Thu H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Do quen biết quen nhau, Sau một thời gian tìm hiểu chị H tự nguyện đăng ký kết hôn với anh Nguyễn Văn N sinh năm 1983 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 37, Quyển số 01/2015 ngày 28/05/2015 tại UBND xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Sau đó, đến đầu năm 2016 thì chị H và anh N ly thân, chị H về nhà bố mẹ đẻ sinh sống và làm việc. Anh N vẫn ở cùng bố mẹ ruột tại xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Chị H và anh N đã ly thân 08 năm.
Đến tháng 11/2019 chị H đi làm việc tại Đài Loan và nhờ bố mẹ chăm sóc con chung trong thời gian chị H đi nước ngoài. Kể từ lúc sinh con đến nay anh N không hề lui tới chăm sóc hay cấp dưỡng cho con chung. Chị H và anh N thường xuyên mâu thuẩn, cãi vả nhau. Mặc dù chị H đã chủ động nói chuyện với anh N nhiều lần để khắc phục tình hình, nhưng không hòa hợp được. Cuộc sống giữa hai bên rất nặng nề.
Chị H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, cần giải phóng cho nhau để tránh những xung đột, mâu thuẫn, gây ảnh hưởng không tốt đến cuộc sống sau này nên chị H đề nghị Toà án giải quyết được ly hôn với anh N.
- Về con chung: Chị H và anh N có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 27/11/2015, hiện tại đang ở với bố mẹ ruột của chị H. Khi ly hôn chị H có nguyện vọng nuôi con chung, tuy nhiên chị đang lao động tại nước ngoài nên chị có nguyện vọng tạm thời giao con chung cho bố mẹ ruột của chị là ông Lưu Khắc H1, sinh năm 1960 và bà Phạm Thị X, sinh năm 1965 chăm sóc, nuôi dưỡng con chung đến khi chị H về nước. Chị H không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Nguyễn Văn N đã có lời khai tại Toà án, đối với yêu cầu xin ly hôn của chị H, anh N có ý kiến như sau:
- Về hôn nhân: Anh N đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị H.
- Về con chung: Chị H và anh N có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 27/11/2015, hiện tại đang ở với bố mẹ ruột của chị H. Khi ly hôn anh N đồng ý giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh N không cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự, phân tích nội dung vụ án, đã đề nghị Hội đồng xét xử. Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 55, 57, 81, 82, 83, 123 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 39; khoản 4 Điều 147 Bộ luật TTDS năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV, cụ thể:
- - Về quan hệ hôn nhân: Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Lưu Thị Thu H và anh Nguyễn Văn N.
- - Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 27/11/2015. Giao con chung Nguyễn Ngọc T cho chị Lưu Thị Thu H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (18 tuổi). Tuy nhiên do hiện nay chị H đang lao động tại nước ngoài nên tạm thời giao cháu T cho bố mẹ ruột của chị H là ông Lưu Khắc H1, sinh năm 1960 và bà Phạm Thị X, sinh năm 1965, cùng địa chỉ: Thôn N, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi chị H về nước. Anh Nguyễn Văn N có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
- - Về án phí: Chị Lưu Thị Thu H và anh Nguyễn Văn N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Chị Lưu Thị Thu H khởi kiện ly hôn với anh Nguyễn Văn N. Chị H có nơi trú tại huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Anh N có nơi cư trú tại huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Tại thời điểm thụ lý vụ án chị Lưu Thị Thu H đang lao động tại Đài Loan có xác nhận của Văn phòng K tại Đ. Ngoài ta tại văn bản số 627/PA08-Đ1 ngày 02/7/2024 của Công an tỉnh H thể hiện chị Lưu Thị Thu H đã xuất cảnh lần gần nhất ngày 01/02/2023, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh quy định tại Điều 37; Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Nguyên đơn, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt do đó Toà án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung giải quyết vụ án:
[2.1] Về hôn quan hệ hôn nhân: Chị H và anh N tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 37, quyền số 01/2015 do Ủy ban nhân dân xã C cấp ngày 28/05/2015 nên hôn nhân giữa chị H và anh N là hôn nhân hợp pháp. Chị H cho rằng vợ chồng mâu thuẫn do anh N không quan tâm đến vợ con và anh, chị đã ly thân nhiều năm. Đối với yêu cầu ly hôn của chị H, anh N đồng ý ly hôn.
Chị H và anh N là vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương nhau, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc nhau và cùng nhau xây dựng cuộc sống gia đình. Chị H và anh N xảy ra mâu thuẫn từ lâu nhưng giữa chị H và anh N không thể hoà giải hàn gắn tình cảm với nhau. Vợ chồng không còn quan tâm nhau, điều này cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu, cho chị H được ly hôn với anh N.
[2.2] Về con chung: Chị H và anh N có 01 con chung là cháu Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 27/11/2015. Hiện cháu T đang ở cùng bố mẹ ruột chị H. Cháu T có nguyện vọng ở với mẹ, để đảm bảo cuộc sống ổn định cho cháu cần giao cháu T cho chị Lưu Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng. Tuy nhiên hiện nay chị H đang lao động tại nước ngoài nên tạm thời giao cháu T cho bố mẹ ruột của chị H là ông Lưu Khắc H1, sinh năm 1960 và bà Phạm Thị X, sinh năm 1965, cùng địa chỉ: Thôn N, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi chị H về nước. Chị H không yêu cầu nên anh N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
[2.4] Về án phí: Chị H, anh N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273, Điều 469, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 8, Điều 9, khoản 1 Điều 51, Điều 55, 57, 81, 82, 83, 123, 127 Luật Hôn nhân gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Lưu Thị Thu H và anh Nguyễn Văn N.
- Về con chung: Giao giao cháu Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 27/11/2015 cho chị Lưu Thị Thu H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Tuy nhiên hiện nay chị H đang lao động tại nước ngoài nên tạm thời giao cháu T cho bố mẹ ruột của chị H là ông Lưu Khắc H1, sinh năm 1960 và bà Phạm Thị X, sinh năm 1965, cùng địa chỉ: Thôn N, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi chị H về nước. Chị H không yêu cầu nên anh N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị H và các thành viên trong gia đình co nghĩa vụ tạo điều kiện cho anh N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, không ai được cản trở anh N thực hiện quyền này.
Việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con là không cố định. Một trong các bên có quyền yêu cầu Tòa án xem xét việc thay đổi nuôi con và cấp dưỡng nuôi con nếu có yêu cầu.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Lưu Thị Thu H và anh Nguyễn Văn N mỗi người phải chịu 75.000 đồng (Bảy lăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng chị H đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0000892 ngày 28/5/2024 của Cục thi Hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh. Hoàn trả lại chị Lưu Thị Thu H 225.000 đồng (Hai trăm hai lăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Thương Huyền |
Bản án số 145/2024/HNGĐ-ST ngày 24/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 145/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Do quen biết quen nhau, Sau một thời gian tìm hiểu chị Hương tự nguyện đăng ký kết hôn với anh Nguyễn Văn Nam sinh năm 1983 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 37, Quyển số 01/2015 ngày 28/05/2015 tại UBND xã Cẩm Mỹ, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Sau đó, đến đầu năm 2016 thì chị Hương và anh Nam ly thân, chị Hương về nhà bố mẹ đẻ sinh sống và làm việc. Anh Nam vẫn ở cùng bố mẹ ruột tại xã Cẩm Mỹ, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Chị Hương và anh Nam đã ly thân 08 năm.
