|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH CÀ MAU Bản án số: 143/2024/DS-ST Ngày: 12-7-2024 V/v tranh chấp hụi |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bình.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Kim Huệ.
Ông Trần Hoàng Giang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tú là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 100/2024/TLST-DS ngày 25 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 186/2024/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
-
- Nguyên đơn: Bà Lê Kim C, sinh năm 1963 (Có mặt)
Địa chỉ cư trú: Ấp L, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau.
-
- Bị đơn: Ông Trần Hoài B, sinh năm 1989 (Vắng mặt).
Bà Nguyễn Hồng N, sinh năm 1989 (Vắng mặt).
Cùng địa chỉ cư trú: Khóm B, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 20/3/2024 cùng các văn bản khác kèm theo và tại phiên tòa nguyên đơn bà Lê Kim C trình bày:
Vào ngày 20/11/2018 âm lịch, bà có mở dây hụi 3.000.000 đồng, mỗi tháng khui một lần vào ngày 20 hàng tháng, gồm 30 chưng, tiền huê hồng hụi là 1.500.000 đồng. Bà N và ông B tham gia 01 chưng, đến kỳ thứ ba ngày 20/01/2019 bà N, ông B hốt hụi và bà chung tiền đầy đủ cho bà N, ông B. Quá trình chơi hụi bà N, ông B đóng hụi cho bà đầy đủ đến hết kỳ thứ 07, từ kỳ thứ 08 bà N, ông B không đóng hụi chết lại cho bà, hụi này hiện nay đã mãn vào ngày 20/4/2021 âm lịch. Bà N, ông B còn nợ 23 kỳ hụi chết chưa đóng: 3.000.000 đồng X 23 kỳ X 01 chưng = 69.000.000 đồng. Một thời gian sau này bà N, ông B có trả cho bà 2.000.000 đồng và sau nhiều lần bà đòi tiền hụi thì bà N, ông B có trả cho bà tổng số tiền 36.000.000 đồng, rồi ngưng không trả tiền hụi cho bà. Hiện ông Trần Hoài B và bà Nguyễn Hồng N còn nợ bà số tiền hụi là 31.000.000 đồng.
Nay bà yêu cầu Toà án giải quyết buộc bà Nguyễn Hồng N và ông Trần Hoài B trả cho bà số tiền hụi còn nợ là 31.000.000 đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Trần Hoài B và bà Nguyễn Hồng N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do và không cung cấp tài liệu, chứng cứ hay ý kiến đối với nội dung khởi kiện của bà Lê Kim C.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa đương sự không nộp thêm tài liệu, chứng cứ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp giữa bà Lê Kim C với ông Trần Hoài B và bà Nguyễn Hồng N là tranh chấp về giao dịch dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Trần Hoài B và bà Nguyễn Hồng N có địa chỉ cư trú tại huyện P, tỉnh Cà Mau, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.
- Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Trần Hoài B và bà Nguyễn Hồng N là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông Trần Hoài B và bà Nguyễn Hồng N.
- Về nội dung: Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án bà Lê Kim C xác định ông Trần Hoài B và bà Nguyễn Hồng N còn nợ bà số tiền hụi là 31.000.000 đồng, nên bà Lê Kim C yêu cầu ông Trần Hoài B và bà Nguyễn Hồng N trả cho bà số tiền còn nợ là 31.000.000 đồng.
[3.1]. Hội đồng xét xử nhận thấy: Việc thỏa thuận chơi hụi giữa bà C, bà N, ông B là hoàn toàn tự nguyện, mục đích và nội dung giao dịch không trái pháp luật. Khi các bên tranh chấp tiền hụi bà C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết và bà C, ông B có thỏa thuận trả nợ được Tòa án ghi nhận tại biên bản ngày 12/12/2023. Ông B thừa nhận vợ chồng ông có nợ bà C số tiền hụi là 31.000.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án bà N, ông B không đến Tòa cũng không gửi ý kiến để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, không cung cấp chứng cứ chứng minh. Như vậy, yêu cầu của bà Lê Kim C buộc ông Trần Hoài B và bà Nguyễn Hồng N trả tiền nợ hụi đây là tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh được quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự "2. Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh". Chính vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào chứng cứ mà nguyên đơn là bà Lê Kim C cung cấp để giải quyết vụ án hoàn toàn phù hợp.
[3.2] Tại điểm c khoản 1 và khoản 2 của Điều 16 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường quy định về nghĩa vụ của thành viên như sau: “c) Tiếp tục góp các phần họ để các thành viên khác được lĩnh cho đến khi thành viên cuối cùng lĩnh họ trong trường hợp đã lĩnh họ trước thành viên khác;”. Ông Trần Hoài B và bà Nguyễn Hồng N tham gia chơi hụi do bà Lê Kim C làm chủ và đã hốt hụi đến nay chưa đóng hụi chết cho bà Lê Kim C là vi phạm nghĩa vụ nên việc chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Kim C là phù hợp với quy định tại Điều 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu khởi kiện của bà Lê Kim C buộc ông Trần Hoài B và bà Nguyễn Hồng N có nghĩa vụ trả cho bà Lê Kim C số tiền nợ hụi 31.000.000 đồng là có căn cứ nên được chấp nhận.
- Về thời gian và phương thức thanh toán: Bà Lê Kim C yêu cầu vợ chồng bà N, ông B thanh toán một lần tiền hụi còn thiếu. Hội đồng xét xử xét thấy, việc thanh toán thuộc thẩm quyền giải quyết của Cơ quan thi hành án sau khi bản án có hiệu lực pháp luật nên không đề cập xem xét trong vụ án này.
- Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Kim C nên bà Lê Kim C không phải chịu án phí. Ông Trần Hoài B và bà Nguyễn Hồng N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 471 của Bộ luật Dân sự; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Kim C. Buộc ông Trần Hoài B và bà Nguyễn Hồng N có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Lê Kim C số tiền hụi còn nợ là 31.000.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí:
Buộc bà Nguyễn Hồng N, ông Trần Hoài B phải nộp số tiền là 1.550.000 đồng (Một triệu, năm trăm năm mươi nghìn đồng, chưa nộp).
Bà Lê Kim C không phải chịu án phí. Bà C là người cao tuổi và có đơn xin miễn dự nộp tạm ứng án phí và được miễn dự nộp tạm ứng án phí nên không đặt ra việc hoàn lại.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Bình |
Bản án số 143/2024/DS-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hụi
- Số bản án: 143/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp xin ly hôn
