|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 145/2024/HS-ST
Ngày 18-7-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Thùy Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Thanh Hiên
Bà Hà Thị Nga
Thư ký phiên toà: Ông Phạm Mạnh Cường - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Ông Trần Hùng Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 125/2024/TLST-HS ngày 7 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 596/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 604/2024/QĐST-HS ngày 29 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Quang H, sinh ngày 20 tháng 6 năm 1983 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số B H, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12 ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị Bích H1; có vợ là Hà Thị T1, sinh năm 1989 và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/01/2024, đến ngày 05/02/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
Bị hại:
- Chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1986; đăng ký thường trú tại: Số B Đ, phường V, quận L, Hải Phòng; chỗ ở: Số C K, phường V, quạn L, thành phố Hải Phòng, vắng mặt;
- Chị Nguyễn Thị Khánh L, sinh năm: 1993; đăng ký thường trú tại: SỐ H T, phường N, quận L, Hải Phòng; chỗ ở: Số H Kênh D, phường K, quận L, thành phố Hải Phòng, vắng mặt;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Lê Mạnh Đ, sinh năm 1996; nơi cư trú: Số D D, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng, có mặt;
- Bà Bùi Thị O, sinh năm 1973; nơi cư trú: Số B Chùa H, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 27/01/2024, Phạm Quang H đeo khẩu trang, mang theo ba lô màu trắng vàng, bên trong đựng 01 tô vít, 01 mũi khoan kim loại, 01 tay công chữ “T” và 01 áo mưa màu xanh đi bộ từ nhà tại số B H, L, Hải Phòng ra khu vực đường K mục đích tìm nhà nào có sơ hở trong việc quản lý tài sản thì trộm cắp. Khi đi đến cửa hàng máy tính của chị Nguyễn Thị S, sinh năm: 1986, trú tại: C Khúc T, V, L, Hải Phòng tại số H - 84 phố K, phường K, L, Hải Phòng thấy cửa cuốn khóa ngoài, lợi dụng đêm tối, không có người trông coi H dùng mũi khoan kim loại, tay công chữ “T” và tô vít mở khóa cửa cuốn. Sau đó H đi sang đường đối diện để quan sát xem có ai phát hiện hay không. Đến khoảng 02 giờ 30 phút cùng ngày, H quay lại dùng tay kéo cửa cuốn lên, đi vào bên trong cửa hàng lấy 01 điện thoại Iphone 7 plus màu đỏ của chị Nguyễn Thị Khánh L, sinh năm: 1993, trú tại: H Kênh D, L, Hải Phòng (là nhân viên cửa hàng) cất vào túi quần và lấy 08 Laptop cho vào trong chiếc balo màu trắng vàng; 07 Laptop, 01 máy tính bảng vào trong áo mưa rồi mang số tài sản trộm cắp được về nhà. Sau đó, H tháo sim điện thoại đang lắp trong điện thoại Iphone 7 plus màu đỏ vứt đi, rồi cho điện thoại, L1, máy tính vào trong áo mưa và ba lô cất giấu vào khe phía sau của máy giặt và tường ở tầng 01 nhà của H.
Sáng ngày 27/01/2024, H mang 01 Laptop nhãn hiệu HP đến cầm cố cho anh Lê Mạnh Đ tại cửa hàng C1 ở địa chỉ số C T, T, L, Hải Phòng được 5.000.000 đồng. Chiều ngày 27/01/2024 và ngày 29/01/2024, H mang 02 Laptop nhãn hiệu Dell đến cầm cố cho bà Bùi Thị O tại cửa hàng C2 ở địa chỉ 20 Chùa Hàng được 4.500.000 đồng. Khi cầm cố, H nói với anh Đ và bà O đó là tài sản của H. Toàn bộ số tiền trên H tiêu xài cá nhân hết. Đến tối ngày 29/01/2024, H mang 04 chiếc Laptop và điện thoại Iphone 7 Plus đi xe ô tô khách lên Hà Nội bán nhưng không bán được. Sau đó, H gọi điện thoại cho vợ là chị Hà Thị T1, sinh năm: 1989, trú tại: Số B H, L, Hải Phòng nói về việc H đã trộm cắp tài sản tại cửa hàng M ở số H - 84 phố K vào đêm ngày 26/01/2024, rạng sáng ngày 27/01/2024 và cất giấu số tài sản trộm cắp được tại khe máy giặt. H nhờ chị T1 mang số tài sản trộm cắp đến Cơ quan Công an giao nộp.
Sau khi phát hiện mất tài sản, chị Nguyễn Thị S đến Công an phường K, Lê C trình báo về việc cửa hàng của chị tại số H - 84 phố K, phường K, L, Hải Phòng bị mất trộm tài sản và giao nộp 01 USB chứa nội dung hình ảnh vụ việc do Camera cửa hàng ghi lại.
Sau khi nhận được điện thoại của H, chị Hà Thị T1 mang 08 Laptop, 01 máy tính bảng, 01 balo màu trắng vàng và 03 giấy cầm đồ đến Công an phường K giao nộp. Ngày 30/01/2024, H đến Công an quận L đầu thú, giao nộp 04 Laptop, điện thoại di động Iphone 7, 01 mũi khoan, 01 tô vít và khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Cùng ngày 30/01/2024, anh Lê Mạnh Đ đến Công an quận L tự nguyện giao nộp lại 01 Laptop nhãn hiệu HP; bà Bùi Thị O đến Công an quận L tự nguyện giao nộp lại 02 Laptop nhãn hiệu Dell.
Bản kết luận định giá tài sản số 14 ngày 30/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận L xác định giá trị của 08 Laptop nhãn hiệu Dell, 04 Laptop nhãn hiệu HP, 02 Laptop nhãn hiệu Macbook, 01 Laptop nhãn hiệu Lenovo, 01 máy tính bảng nhãn hiệu Surface có tổng trị giá 102.946.000 đồng và 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus trị giá 1.400.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 139/CT-VKSLC ngày 6/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố Phạm Quang H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo Phạm Quang H và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Phạm Quang H mức án từ 36 tháng đến 42 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Chị Nguyễn Thị S và chị Nguyễn Thị Khánh L đã nhận lại toàn bộ tài sản nên không có yêu cầu bồi thường dân sự. Anh Lê Mạnh Đ yêu cầu H bồi thường số tiền 5.000.000 đồng; bà Bùi Thị O yêu cầu H bồi thường số tiền 4.500.000 đồng nên cần buộc H phải bồi thường cho anh Đ và bà O số tiền trên.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và Dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện là đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về hành vi trộm cắp tài sản:
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai bị hại, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ thể hiện: Vào khoảng 01 giờ 30 phút ngày 27/01/2024, tại cửa hàng máy tính của chị Nguyễn Thị S, số H - 84 phố K, phường K, quận L, thành phố Hải Phòng bị cáo Phạm Quang H đã có hành vi lợi dụng đêm tối, tài sản không có người trông coi, đã lén lút chiếm đoạt 15 laptop, 01 máy tính bảng với tổng trị giá 102.946.000 đồng của chị Nguyễn Thị S và 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus trị giá 1.400.000 Đồng của chị Nguyễn Thị Khánh L. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt là 104.356.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự.
[3] Về tình tiết định khung: Tổng số tài sản bị cáo chiếm đoạt của các bị hại là 104.356.000 đồng đã vi phạm điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Điều luật quy định: “2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: ...c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng...”. Do vậy, việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đối với bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trị an xã hội nên cần phải xử lý nghiêm để răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
- Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “thành khẩn khai báo” theo điểm s khoản 1 Điều 51; sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã “đầu thú” nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
- Về quyết định hình phạt áp dụng đối với bị cáo:
[7] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy về nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, hành vi lợi dụng đêm tối, phá cửa vào trong cửa hàng lấy số lượng lớn tài sản trưng bày tại cửa hàng máy tính của chị Nguyễn Thị S cho thấy sự quyết tâm chiếm đoạt tài sản của người khác của bị cáo. Do đó cần xử lý nghiêm, phạt bị cáo trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự mới đủ tác dụng răn đe, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại là chị Nguyễn Thị S, Nguyễn Thị Khánh L đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xét. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Lê Mạnh Đ yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 5.000.000 đồng; bà Bùi Thị O yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 4.500.000 đồng nên cần buộc bị cáo H phải bồi thường cho anh Đ và bà O số tiền trên theo quy định tại khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 589 Bộ luật Dân sự.
[9] Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án gồm 01 mũi khoan kim loại, 01 tô vít, 01 ba lô màu trắng vàng. Xét các vật chứng thu giữ không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,
[10] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự thì bị cáo có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên xét bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và Dân sự sơ thẩm theo luật định.
[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự,
Tuyên bố bị cáo Phạm Quang H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Phạm Quang H 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Trừ cho bị cáo thời gian bị tạm giữ từ ngày 30 tháng 01 năm 2024 đến ngày 05 tháng 02 năm 2024.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, Điều 589 Bộ luật dân sự, buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Lê Mạnh Đ số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng); bồi thường cho bà Bùi Thị O số tiền 4.500.000đ (bốn triệu năm trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ 01 mũi khoan kim loại, 01 tô vít, 01 ba lô màu trắng vàng thu giữ của bị cáo (Theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu vật chứng ngày 007/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân).
Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 475.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;
Bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Lê Mạnh Đ được kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bà Bùi Thị O được kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
|
Ngô Thị Thuỳ Linh |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Thuỳ Linh |
Bản án số 145/2024/HS-ST ngày 18/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 145/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Quang H Trộm cắp tài sản
