Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SƠN LA

TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 145/2024/HS-ST

Ngày 17/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: ông Lê Lương Anh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. ông Hà Văn Tiêm.

2. bà Hà Thị Thanh Liêm.

Thư ký phiên toà: bà Cà Thị Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 152/2024/TLST-HS, ngày 30/8/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 152/2024/QĐXXST-HS, ngày 05/9/2024 đối với bị cáo:

- Vì Văn L (tên gọi khác: Không), sinh ngày 04 tháng 02 năm 1982 tại huyện M, tỉnh Sơn La; Nơi ĐKHKTT và trú tại: bản L, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo, đảng phái, đoàn thể: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vì Văn H (đã chết) và bà Trần Thị B, sinh năm 1955, bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 18/5/2023 Công an thị trấn H, huyện M tỉnh Sơn La xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” hình thức xử lý: Phạt tiền 1.500.000,đ (một triệu năm trăm nghìn đồng), bị cáo đã nộp xong khoản tiền phạt.

Nhân thân: bị cáo có 01 tiền án đã được xóa án tích, tại bản án số 23/2014/HSST, ngày 29/5/2014 của Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La xử phạt bị cáo 14.000.000,đ (Mười bốn triệu đồng) về tội Đánh bạc.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 08 tháng 5 năm 2024 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 08 giờ 20 phút, ngày 08/5/2024, tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy Công an thành phố S làm nhiệm vụ tại khu vực tổ F, phường Q, thành phố S phát hiện bắt quả tang Vì Văn L đang có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói nilon màu trắng, mở ra bên trong có chứa 05 (năm) viên nén màu vàng cam, L khai nhận là ma túy tổng hợp do bị cáo mua được và cất giữ để sử dụng.

Ngày 08/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố S đã thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh và lấy mẫu giám định vật chứng. Kết quả cân tịnh: 05 viên nén màu vàng cam có khối lượng 2,26 gam; lấy toàn bộ 05 viên nén màu vàng cam có khối lượng 2,26 gam làm mẫu gửi giám định, ký hiệu L.

Cùng ngày, cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố S ra Quyết định trưng cầu giám định số 628/QĐ – ĐCSKT – MT, trưng cầu Phòng PC 09 – Công an tỉnh S để giám định chất ma túy.

Tại bản Kết luận giám định số 1043/KL-KTHS, ngày 09/5/2024 của phòng K Công an tỉnh S kết luận: "Mẫu ký hiệu L gửi giám định là ma túy; loại MDMA, có tên khoa học là M, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và nghị dịnh số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là L: 2,26 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 2,26 gam loại Methylphenylethylamine ".

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Vì Văn L khai nhận hành vi phạm tội như sau: Bị cáo Vì Văn L sử dụng ma túy từ năm 2023. Khoảng 06 giờ ngày 08/5/2024, L đi xe taxi từ nhà tại bản L, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La lên thành phố S, tỉnh Sơn La để đi chơi, khi đi đến khu vực chợ T thành phố S, tỉnh Sơn La, L xuống xe taxi đi bộ tìm quán ăn sáng, ăn sáng xong, L đi bộ đi bộ ra khu vực kè suối thuộc tổ A, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La thì nhìn thấy một người nam giới, (L không biết tên tuổi, địa chỉ) có dáng vẻ giống người nghiện ma túy đang đứng một mình cạnh đường. Lập lại gần và đặt vấn đề hỏi mua ma túy tổng hợp với giá là 2.000.000,đ, người nam giới đồng ý, L đưa tiền rồi người đó đưa lại cho L 01 gói nilon màu trắng, bên trong chứa 05 viên nén màu vàng cam là ma túy tổng hợp. Lập cầm túi ma túy cất giấu bên trong túi quần trước đang mặc rồi đi taxi đén khu vực Cung văn hóa thiếu nhi tỉnh Sơn La thuộc tổ F ,phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La thì xuống xe. Khi L đang đi bộ tìm nơi vắng người để sử dụng ma túy thì gặp tổ công tác công an thành phố S kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 395/CT-VKSTP, ngày 29/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La truy tố bị cáo Vì Văn L về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Vì Văn L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; điều 38 Bộ luật Hình sự:

- Xử phạt bị cáo Vì Văn L từ 26 đến 32 tháng tù.

Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì công văn Công an thành phố Sơn La niêm phong dán kín bằng giấy niêm phong gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 túi ni lon màu trắng.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Vì Văn L nhận tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, qua xét hỏi bị cáo Vì Văn L khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát thành phố S đã truy tố đối với bị cáo. Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở pháp lý kết luận: Ngày 08/5/2024, bị cáo Vì Văn L đã có hành vi cất giấu trái phép 2,26 gam Methylphenylethylamine với mục đích sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.

Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ: Lời khai nhận tội của bị cáo; Biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng vật chứng thu giữ là 2,26 gam loại Methylphenylethylamine; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong kiểm tra vật chứng và niêm phong lại; Kết luận giám định số 1043/KL-KTHS, ngày 09/5/2024 của phòng K Công an tỉnh S; Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với kết luận điều tra.

Như vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Vì Văn L đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La truy tố và Tòa án nhân dân thành phố Sơn La xét xử bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, khung hình phạt có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm và thuộc trường hợp nghiêm trọng là chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.

[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ chính sách quản lý chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma túy và hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Xét cần xử phạt nghiêm khắc, nhằm trừng trị, cải tạo, giáo dục bị cáo và nhằm răn đe phòng ngừa chung.

Tuy nhiên khi áp dụng hình phạt cần cân nhắc về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo có một tiền sự, ngày 18/5/2023 Công an thị trấn H, huyện M tỉnh Sơn La xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” hình thức xử lý: Phạt tiền 1.500.000,đ (một triệu năm trăm nghìn đồng), đã nộp phạt xong. Tại bản án số 23/2014/HSST, ngày 29/5/2014 của Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La xử phạt bị cáo 14.000.000,đ (mười bốn triệu đồng) về tội Đánh bạc (đã được xóa án tích).

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự, do đó cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để thể hiện tính khoan hồng, nhân đạo của pháp luật.

Căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, cần lên mức án tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, bị cáo đã 01 lần bị xét xử về tội phạm hình sự và 01 lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” hình thức xử phạt tiền, đáng lẽ ra rút ra bài học để sửa chữa sai lầm, khuyết điểm nhưng bị cáo không rèn luyện, tu dưỡng bản thân, tiếp tục phạm tội, do đó cần phải có một bản án nghiêm khắc đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm đảm bảo biện pháp cải tạo giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, không có tài sản có giá trị, việc áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo khó có khả năng thi hành do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng vụ án: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 túi nilon màu trắng, xét là vật không có giá trị sử dụng, do đó cần tịch thu, tiêu hủy là phù hợp với quy định tại điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[6] Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo không biết rõ tên tuổi, địa chỉ. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án. Do đó, buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm về toàn bộ số ma tuý bị thu giữ.

[7] Về án phí: Do hành vi phạm tội của mình nên bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; điều 38 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Vì Văn L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt bị cáo Vì Văn L 26 (Hai mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/5/2024.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì công văn do Công an thành phố S phát hành còn nguyên niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng lưu kho vụ Vì Văn L, tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 08/5/2024, gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 túi ni lon màu trắng”, phong bì được dán niêm phong số 084373.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/9/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S, tỉnh Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và khoản 1 điều 21, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Vì Văn L phải chịu 200.000,đ (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Vì Văn L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 17/9/2024)./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND TP Sơn La (3);
  • - Chi cục THADS TP Sơn La;
  • - Công an TP Sơn La;
  • - THAPT (2);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: hồ sơ, án văn.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Lê Lương Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 145/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy (criminal case)

  • Số bản án: 145/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vì Văn Lập - tàng trữ trái phwsp chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger