TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 145/2024/HS-ST.
Ngày: 17/7/2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trần Kiên.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bảng;
Bà Nguyễn Thị Biên.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dung – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Trần Ngọc Nam – Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 129/2024/TLST-HS, ngày 20 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 125/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lương Văn T, sinh năm 1991; nơi đăng ký hộ khẩu và chỗ ở: Thôn Đ, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn L, sinh năm 1973 (đã chết) và bà Lương Thị S, sinh năm 1973; vợ: Nguyễn Thị L1, sinh năm 1991; con: Có 02 con, đều sinh năm 2021; tiền sự: Không có; tiền án: Không có; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/01/2024 đến ngày 25/01/2024 được tại ngoại. Bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, (có mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Lưu Văn H, sinh năm 1988; trú tại: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. (Vắng mặt);
- Ông Lương Văn Ư, sinh năm 1972 (Vắng mặt);
- Anh Lương Công T1, sinh năm 1998 (Vắng mặt);
- Anh Lương Văn D, sinh năm 2003 (Vắng mặt);
- Chị Nguyễn Thị L1, sinh năm 1991 (Có mặt).
Đều trú tại: Thôn Đ, xã T, thành phố B.
- Anh Nguyễn Ngọc L2, sinh năm 2001; trú tại: Tổ dân phố T, thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt);
- Anh Tạ Phương N, sinh năm 1999; trú tại: Thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt);
- Chị Nguyễn Thu H1, sinh năm 1991; trú tại: Thôn Đ, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt);
- Anh Vũ Duy Q, sinh năm 1989; trú tại: Tổ dân phố Đ, phường H, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt);
- Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1999; trú tại: Thôn Y, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt);
- Chị Hoàng Thị H2, sinh năm 1991; trú tại: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ 30 phút ngày 19/01/2024, Công an thành phố B kiểm tra hành chính tại quán nước của ông Hoàng Văn H3, sinh năm 1969 ở lô G, đường V, xã T, thành phố B phát hiện Lương Văn T đang cho anh Lưu Văn H vay tiền với mức lãi suất cao. Tổ công tác đã lập biên bản thu giữ:
- 01 xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI ACCENT BKS 98A – 623.78
- 01 hợp đồng mua bán xe có chữ ký của anh Lưu Văn H; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô mang tên Hoàng Thị H2; 01 giấy chứng nhận kiểm định; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện của xe ô tô BKS 98A – 623.78; Số tiền mặt 100.000.000 đồng.
- Trường giao nộp: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO Reno 7Z 5G; 01 xe ô tô nhãn hiệu KIA SOLUTO BKS 98A – 297.36.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B khám xét khẩn nơi ở của Lương Văn T đã thu giữ:
- 01 xe ô tô nhãn hiệu MAZDA 3 BKS 98A – 299.26; 01 hợp đồng mua bán xe mang tên người bán xe Nguyễn Thu H1.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream BKS 98B3 – 939.18 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Vũ Duy Q.
- 01 hợp đồng mua bán xe ô tô ghi ngày 03/01/2024 mang tên người bán xe là Tạ Phương N.
- 01 tờ giấy vay tiền mang tên người vay tiền Lương Văn Dương; 01 tờ giấy vay tiền ghi ngày 07/4/2023 mang tên người vay tiền Lương Công Thắng.
Ông Lương Văn Ư, sinh năm 1972, trú tại thôn Đ, xã T, thành phố B là anh họ T giao nộp:
- 01 xe ô tô nhãn hiệu CHEVROLET CRUZE BKS 89A-137.96; 01 Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 047804 mang tên Vũ Văn K; 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và 01 giấy chứng nhận bảo hiểm.
- 01 hợp đồng mua bán xe của Nguyễn Văn T2; 01 hợp đồng mua bán xe đề ngày 04/01/2023 ghi Vũ Văn K bán xe cho anh Nguyễn Văn N1.
Quá trình điều tra xác định Lương Văn T có hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự cho những người sau:
- Lương Công T1: Ngày 07/4/2023, T cho anh T1 vay 15.000.000 đồng, ban đầu thoả thuận mức lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng mức lãi suất là 182,5%/1 năm, thời hạn vay là 01 tháng, số tiền cắt lãi của 01 tháng là 2.250.000 đồng. Vì anh T1 ở cùng thôn nên T chỉ cắt lãi số tiền là 2.000.000 đồng, tương ứng lãi suất là 162%/1 năm. T chuyển khoản cho anh T1 số tiền
13.000.000 đồng. Anh T1 viết giấy vay tiền đưa T giữ. Ngày 03/5/2023, anh T1 đã chuyển khoản trả 15.000.000 đồng cho T nhưng không lấy lại tờ giấy vay tiền. Số tiền lãi hợp pháp theo quy định của pháp luật là 246.600 đồng, số tiền T thu lợi bất chính là 1.753.400 đồng. Anh T1 không yêu cầu T phải trả số tiền thu lợi bất chính.
- Lương Văn D: Khoảng tháng 4/2023, T cho anh D vay 10.000.000 đồng, mức lãi suất 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, tương ứng mức lãi suất là 182,5%/1 năm, thời hạn vay là 01 tháng. T không cắt lãi trước mà đưa cho anh D vay 10.000.000 đồng tiền mặt. Anh D viết giấy vay tiền đưa T giữ. Ngày 10/5/2023, anh D chuyển khoản 5.800.000 đồng; ngày 11/5/2023 chuyển khoản 5.700.000 đồng để trả tiền vay gốc là 10.000.000 đồng và lãi suất một tháng là 1.500.000 đồng. Số tiền lãi hợp pháp theo quy định của pháp luật là 164.400 đồng, số tiền T thu lợi bất chính là 1.335.600 đồng. Anh D không yêu cầu T phải trả số tiền thu lợi bất chính.
- Nguyễn Ngọc L2: Ngày 17/12/2023, T cho anh L2 vay 7.000.000 đồng, mức lãi suất là 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, tương ứng mức lãi suất là 182,5%/1 năm, thời hạn vay là 01 tháng, không viết giấy tờ. T cắt lãi trước 1.050.000 đồng là tiền lãi của 01 tháng và chỉ đưa cho anh L2 5.950.000 đồng. Số tiền lãi hợp pháp theo quy định của pháp luật là 115.080 đồng, T thu lợi bất chính 934.920 đồng.
Ngày 03/01/2024, T nhận cầm cố xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA VIOS không gắn biển kiểm soát để cho anh L2 vay 100.000.000 đồng, mức lãi suất 7.000 đồng/1 triệu/1 ngày, tương ứng với mức lãi suất là 255,5%/ 1 năm, thời hạn vay là 01 tháng. Chiếc xe này thuộc quyền sở hữu của anh Tạ Phương N, xe mua lại đang chờ cấp biển số. Anh N cùng đi với L2 đến nhà Trường và đồng ý cho mượn xe để cầm cố vay tiền. T đã cắt lãi trước một tháng 21.000.000 đồng và trừ nợ ngày 17/12/2023 số tiền 7.000.000 đồng của L2 vay, chuyển khoản cho anh L2 72.000.000 đồng. T đưa Hợp đồng mua bán xe để anh N viết bán xe ô tô cho T. Sau khi nhận được tiền, anh N đã đưa lại toàn bộ số tiền này cho anh L2. Số tiền lãi hợp pháp theo quy định của pháp luật là 1.644.000 đồng, T thu lợi bất chính 19.356.000 đồng.
Ngày 07/01/2024, anh N cần lấy xe nên bảo anh L2 chuộc xe về trả. Anh L2 đã hỏi chị Nguyễn Thu H1 nhờ cho vay tiền. Do chị H1 không có tiền nên chon anh L2 mượn xe ô tô của chị H1 mang đi cầm cố. Anh L2 đã mượn chị H1 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mazda 3 BKS 98A - 299.26 và cùng chị H1 đến cầm cố cho T để chuộc chiếc xe ô tô mượn của N ra và vay thêm 200.000.000 đồng. Đối với khoản tiền này, T lấy lãi suất là 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, tương ứng với mức lãi suất là 182,5%/1 năm, thời hạn vay là 01 tháng. T cắt lãi trước 01 tháng 30.000.000 đồng tiền lãi và chuyển khoản cho anh L2 số tiền 170.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng của chị H1. T đưa Hợp đồng mua bán xe để chị H1 viết bán xe ô tô này cho T. Chị H1 đã chuyển lại toàn bộ số tiền vay cho L2. Số tiền lãi hợp pháp theo quy định của pháp luật là 3.288.000 đồng, T thu lợi bất chính là 26.712.000 đồng.
Như vậy, Lương Văn T đã cho anh L2 vay 03 mã với tổng số tiền 307.000.000 đồng, số tiền lãi hợp pháp theo quy định của pháp luật là 5.047.080 đồng; thu lợi bất chính là 47.002.920 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Anh L2 đã giao nộp 77.950.000 đồng; chị H1 đã giao nộp 170.000.000 đồng và không có yêu cầu gì. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mazda 3 BKS 98A - 299.26 cho chị H1.
- Vũ Duy Q: Ngày 10/01/2024, T nhận cầm cố chiếc xe mô tô Honda Dream BKS 98B3–939.18 của anh Q và cho vay 17.000.000 đồng, mức lãi suất 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, tương ứng với lãi suất 185,5%/1 năm, thời hạn vay trong vòng 10 ngày. T đã cắt lãi trước tiền lãi 10 ngày là 850.000 đồng và chuyển khoản 16.150.000 đồng vào tài khoản MBcủa anh Bùi Quang L3, sinh năm 1999, trú tại thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang theo yêu cầu của anh Q do Q không có tài khoản ngân hàng. Anh L4 đã đưa lại toàn bộ số tiền cho anh Q. Số tiền lãi hợp pháp theo quy định của pháp luật là 93.160 đồng, T thu lợi bất chính là 756.840 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Vũ Duy Q đã giao nộp 16.150.000 đồng và không yêu cầu gì. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô BKS 98B3 – 939.18 cho anh Q.
- Nguyễn Văn T2: Ngày 10/01/2024, T nhận cầm cố chiếc xe ô tô CHEVROLET CRUZE BKS 89A – 137.96 của anh T2 và cho vay 170.000.000 đồng, mức lãi suất 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày, tương ứng với mức lãi suất 146%/1 năm, thời hạn vay 10 ngày. T đã cắt lãi trước tiền lãi của 10 ngày là 6.800.000 đồng và chuyển khoản cho anh T2 163.200.000 đồng. T đưa Hợp đồng mua bán xe để anh T2 viết bán chiếc xe ô tô này cho T, do xe có đăng ký mang tên Vũ Văn K nên anh T2 ghi và ký tên trong hợp đồng mua bán là K. Anh T2 giao lại cho T chiếc xe ô tô, cùng giấy tờ xe. T mang xe ô tô cùng toàn bộ tài liệu giấy tờ xe đến nhờ gửi tại nhà anh họ là Lương Văn Ư, sinh năm 1972, trú tại thôn Đ, xã T, thành phố B. Số tiền lãi hợp pháp theo quy định của pháp luật là 931.600 đồng, T thu lợi bất chính là 5.868.400 đồng. Đến nay anh T2 chưa trả được tiền cho T.
Về nguồn gốc chiếc xe ô tô BKS 89A – 137.96: Anh T2 khai mua chiếc xe ô tô này của một người không quen biết trên mạng xã hội nhưng không làm thủ tục sang tên vẫn giữ đăng ký xe của chủ cũ mang tên Vũ Văn K.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu những tài liệu liên quan đối với chiếc xe ô tô BKS 89A – 137.96 đã thu giữ. Kết luận giám định số 1123/KL-KTHS ngày 23/5/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:
- Chữ ký (dạng chữ viết), chữ viết trên các tài liệu cần giám định: 01 Hợp đồng mua bán xe đề năm 2023; 01 Hợp đồng mua bán xe máy, ô tô ghi ngày 4/1/2023 – trừ chữ ký, chữ viết có nội dung “K – Vũ Văn K” dưới mục “Bên A” so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Văn T2 trên tài liệu mẫu là do cùng một người ký, viết ra.
- Hình dấu tròn có nội dung “U.B.N.D thị trấn Thứa H. Lương Tài T Bắc Ninh” trên tài liệu cần giám định (Bản sao Căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Văn N1 so với hình dấu tròn có nội dung của UBND thị trấn Thứa trên các tại liệu mẫu là cùng một con dấu đóng ra.
- Chữ ký mang tên Phạm Hữu T3 trên tài liệu cần giám định so với chữ ký của Phạm Hữu T3 trên các tài liệu mẫu là do cùng một người ký ra.
- Phôi Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số DA 3307567 gửi giám định là thật.
- Hình dấu tròn trên Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số DA 3307567 so với hình dấu tròn các tại liệu mẫu là do cùng một con dấu đóng ra.
- Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 047804 mang tên chủ xe Vũ Văn K, biển số đăng ký 89A - 137.96 gửi giám định là giả, được làm bằng phương pháp in phun màu.
- Dãy số máy, dãy số khung trên xe ô tô biển kiểm soát 89A -137.96 gửi giám định không bị hàn ghép, đóng đục lại.
Sau buổi làm việc ngày 24/1/2024, Nguyễn Văn T2 bỏ đi khỏi địa phương. Cơ quan điều tra đã quyết định tách hành vi của Nguyễn Văn T2 cùng vật chứng là chiếc xe ô tô và tài liệu có liên quan để tiếp tục điều tra.
- Lưu Văn H: Ngày 19/01/2024, T nhận cầm cố chiếc xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI ACCENT BKS 98A – 623.78 của anh H và cho vay 220.000.000 đồng, mức lãi suất 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, tương ứng với mức lãi suất là 182.5%/1 năm, thời hạn vay trong vòng 10 ngày. T cắt lãi trước tiền lãi 10 ngày là 11.000.000 đồng, đưa cho anh H 209.000.000 đồng (gồm 100.000.000 đồng tiền mặt và 109.000.000 đồng chuyển khoản). Anh H ký vào Hợp đồng mua bán xe bán chiếc xe ô tô. Số tiền lãi hợp pháp theo quy định của pháp luật là 1.205.600 đồng, T thu lợi bất chính là 9.794.400 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Lưu Văn H bị Cơ quan điều tra thu giữ khi kiểm tra hành chính số tiền 100.000.000 đồng, tự nguyện giao nộp số tiền 109.000.000 đồng và không có yêu cầu gì.
Kết quả điều tra xác định chiếc xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI ACCENT BKS 98A – 623.78 thuộc quyền sở hữu của chị Hoàng Thị H2. Chị H2 đồng ý cho anh H mượn chiếc xe ô tô này để đi cầm cố vay tiền. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe ô tô cùng giấy tờ xe cho chị H2.
Như vậy, tổng số tiền mà Lương Văn T cho 6 người nêu trên vay là 739.000.000 đồng, số tiền lãi theo quy định pháp luật là 7.688.440 đồng, số tiền thu lời bất chính là 66.511.560 đồng.
Cơ quan điều tra đã sao kê tài khoản Ngân hàng TMCP Q1 số 6399988888888 của Lương Văn T. Kết quả có phát sinh các giao dịch chuyển khoản tiền như nêu trên. T xác định là các giao dịch liên quan đến cho vay lãi nặng. Cơ quan điều tra đã ra quyết định phong tỏa tài khoản ngân hàng trên với số dư tài khoản là 2.607.818 đồng.
Tại bản Cáo trạng số: 132/CT-VKS ngày 19/6/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố truy tố bị cáo Lương Văn T về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Lương Văn T khai nhận:
Bị cáo thừa nhận về toàn bộ hành vi cho vay lãi nặng như bản Cáo trạng nêu. Bị cáo đã cho 6 người vay tiền với lãi suất cao, cụ thể:
- Ngày 07/4/2023, anh Lương Công T1 vay 15.000.000 đồng, ban đầu thoả thuận mức lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, thời hạn vay là 01 tháng. Bị cáo chuyển khoản cho anh T1 số tiền 13.000.000 đồng. Ngày 03/5/2023, anh T1 đã chuyển khoản trả 15.000.000 đồng.
- Khoản tháng 4/2023, anh Lương Văn D vay 10.000.000 đồng, mức lãi suất 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, thời hạn vay là 01 tháng. Ngày 10/5/2023, anh D chuyển khoản 5.800.000 đồng; ngày 11/5/2023 chuyển khoản 5.700.000 đồng để trả tiền vay gốc là 10.000.000 đồng và lãi suất là 1.500.000 đồng.
- Ngày 17/12/2023, anh Nguyễn Ngọc L2 vay 7.000.000 đồng, mức lãi suất là 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, thời hạn vay là 01 tháng, không viết giấy tờ. Bị cáo cắt lãi trước 1.050.000 đồng là tiền lãi của 01 tháng và chỉ đưa cho anh L2 5.950.000 đồng. Ngày 03/01/2024, bị cáo nhận cầm cố xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA VIOS không gắn biển kiểm soát để cho anh L2 vay 100.000.000 đồng, mức lãi suất 7.000 đồng/1 triệu/1 ngày, thời hạn vay là 01 tháng. Chiếc xe này thuộc quyền sở hữu của anh Tạ Phương N. Bị cáo đã cắt lãi trước một tháng 21.000.000 đồng và trừ nợ ngày 17/12/2023 số tiền 7.000.000 đồng của L2 vay, chuyển khoản cho anh L2 72.000.000 đồng. Ngày 07/01/2024, anh N cần lấy xe nên bảo anh L2 chuộc xe về trả. Anh L2 đã mượn chị H1 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mazda 3 BKS 98A - 299.26 và cùng chị H1 đến cầm cố cho T để chuộc chiếc xe ô tô mượn của N ra và vay thêm 200.000.000 đồng. Đối với khoản tiền này, bị cáo lấy lãi suất là 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, thời hạn vay là 01 tháng. Bị cáo cắt lãi trước 01 tháng 30.000.000 đồng tiền lãi và chuyển khoản cho anh L2 số tiền 170.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng của chị H1. Như vậy, bị cáo cho anh L2 vay 03 mã với tổng số tiền 307.000.000 đồng.
- Ngày 10/01/2024, anh Vũ Duy Q cầm cố chiếc xe mô tô Honda Dream BKS 98B3 – 939.18 và cho vay 17.000.000 đồng, mức lãi suất 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, thời hạn vay trong vòng 10 ngày. Bị cáo đã cắt lãi trước tiền lãi 10 ngày là 850.000 đồng và chuyển khoản 16.150.000 đồng.
- Ngày 10/01/2024, anh Nguyễn Văn T2 cầm cố chiếc xe ô tô CHEVROLET CRUZE BKS 89A–137.96 và cho vay 170.000.000 đồng, mức lãi suất 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày, thời hạn vay 10 ngày. Bị cáo đã cắt lãi trước tiền lãi của 10 ngày là 6.800.000 đồng và chuyển khoản cho anh T2 163.200.000 đồng.
- Ngày 19/01/2024, anh Lưu Văn H, cầm cố chiếc xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI ACCENT BKS 98A–623.78 của anh H và vay 220.000.000 đồng, mức lãi suất 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, thời hạn vay trong vòng 10 ngày. Bị cáo cắt lãi trước tiền lãi 10 ngày là 11.000.000 đồng, đưa cho anh H 209.000.000 đồng. Nay, bị cáo thấy việc làm của mình là sai trái là vi phạm pháp luật, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có lời khai xác định:
- Anh Lương Công T1: Ngày 07/4/2023, anh vay của bị cáo 15.000.000 đồng, thoả thuận mức lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, thời hạn vay là 01 tháng, cắt lãi số tiền là 2.000.000 đồng. Bị cáo chuyển khoản cho anh số tiền 13.000.000 đồng. Ngày 03/5/2023, anh đã chuyển khoản trả 15.000.000 đồng. Nay, anh không yêu cầu T phải trả số tiền thu lợi bất chính.
- Anh Lương Văn D: Khoảng tháng 4/2023, anh vay của bị cáo 10.000.000 đồng, mức lãi suất 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, thời hạn vay là 01 tháng. Ngày 10/5/2023, anh chuyển khoản 5.800.000 đồng; ngày 11/5/2023 chuyển khoản 5.700.000 đồng để trả tiền vay gốc là 10.000.000 đồng và lãi suất một tháng là 1.500.000 đồng. Nay, anh không yêu cầu bị cáo phải trả số tiền thu lợi bất chính.
- Anh Nguyễn Ngọc L2: Ngày 17/12/2023, anh vay của bị cáo 7.000.000 đồng, mức lãi suất là 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, thời hạn vay là 01 tháng. T cắt lãi trước 1.050.000 đồng là tiền lãi của 01 tháng và chỉ đưa cho anh 5.950.000 đồng. Ngày 03/01/2024, anh cầm cố xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA VIOS không gắn biển kiểm soát để vay 100.000.000 đồng, mức lãi suất 7.000 đồng/1 triệu/1 ngày, thời hạn vay là 01 tháng. Chiếc xe này thuộc quyền sở hữu của anh Tạ Phương N. Anh N đồng ý cho anh mượn xe để cầm cố vay tiền. Bị cáo đã cắt lãi trước một tháng 21.000.000 đồng và trừ nợ ngày 17/12/2023 số tiền 7.000.000 đồng vay, chuyển khoản cho anh 72.000.000 đồng. Bị cáo đưa Hợp đồng mua bán xe để anh N viết bán xe ô tô cho T. Sau khi nhận được tiền, anh N đã đưa lại toàn bộ số tiền này cho anh. Ngày 07/01/2024, anh N cần lấy xe nên bảo anh chuộc xe về trả. Anh đã hỏi chị Nguyễn Thu H1 nhờ cho vay tiền. Do chị H1 không có tiền nên cho anh mượn xe ô tô nhãn hiệu Mazda 3 BKS 98A - 299.26 và cùng chị H1 đến cầm cố cho T để chuộc chiếc xe ô tô mượn của N ra và vay thêm 200.000.000 đồng. Đối với khoản tiền này, bị cáo lấy lãi suất là 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, thời hạn vay là 01 tháng. T cắt lãi trước 01 tháng 30.000.000 đồng tiền lãi và chuyển khoản cho anh số tiền 170.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng của chị H1. T đưa Hợp đồng mua bán xe để chị H1 viết bán xe ô tô này cho T. Chị H1 đã chuyển lại toàn bộ số tiền vay cho anh. Anh đã giao nộp 77.950.000 đồng cho cơ quan điều tra và không có yêu cầu gì.
- Anh Vũ Duy Q: Ngày 10/01/2024, anh cầm cố chiếc xe mô tô Honda Dream BKS 98B3 – 939.18 của anh và vay 17.000.000 đồng, mức lãi suất 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, thời hạn vay trong vòng 10 ngày. T đã cắt lãi trước tiền lãi 10 ngày là 850.000 đồng và chuyển khoản 16.150.000 đồng. Anh đã giao nộp 16.150.000 đồng, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô BKS 98B3 – 939.18 cho anh. Nay, anh không yêu cầu gì.
- Anh Nguyễn Văn T2: Ngày 10/01/2024, anh cầm cố chiếc xe ô tô CHEVROLET CRUZE BKS 89A 137.96 của anh và cho vay 170.000.000 đồng, mức lãi suất 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày, thời hạn vay 10 ngày. T đã cắt lãi trước tiền lãi của 10 ngày là 6.800.000 đồng và chuyển khoản cho anh 163.200.000 đồng. T đưa Hợp đồng mua bán xe để anh viết bán chiếc xe ô tô này cho T, do xe có đăng ký mang tên Vũ Văn K nên anh ghi và ký tên trong hợp đồng mua bán là K. Anh giao lại cho T chiếc xe ô tô, cùng giấy tờ xe.
- Anh Lưu Văn H: Ngày 19/01/2024, anh cầm cố chiếc xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI ACCENT BKS 98A 623.78 của anh và cho vay 220.000.000 đồng, mức lãi suất 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, thời hạn vay trong vòng 10 ngày. T cắt lãi trước tiền lãi 10 ngày là 11.000.000 đồng, đưa cho anh 209.000.000 đồng. Anh H ký vào Hợp đồng mua bán xe bán chiếc xe ô tô. Anh bị Cơ quan
điều tra thu giữ khi kiểm tra hành chính số tiền 100.000.000 đồng, tự nguyện giao nộp số tiền 109.000.000 đồng và không có yêu cầu gì.
- Ông Lương Văn Ư: Ngày 10/01/2024, anh cho bị cáo T gửi chiếc xe ô tô CHEVROLET CRUZE BKS 89A–137.96 cùng giấy tờ xe. Anh không biết bị cáo cầm cố xe để cho vay lãi cao. Anh đã giao nộp cho cơ quan điều tra chiếc xe và giấy tờ.
- Anh Tạ Phương N: Chiếc xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA VIOS không gắn biển kiểm soát là tài sản của anh, xe mua lại đang chờ cấp biển số. Ngày 03/01/2024, anh cùng đi với anh L2 đến nhà Trường và đồng ý cho mượn xe để cầm cố vay tiền. Sau đó, bị cáo đưa Hợp đồng mua bán xe để anh viết bán xe ô tô cho T. Sau khi nhận được tiền, anh đã đưa lại toàn bộ số tiền này cho anh L2. Chiếc xe này, anh L2 đã trả lại cho anh và anh không có yêu cầu gì.
- Chị Nguyễn Thu H1: Ngày 07/01/2024, anh L2 đã hỏi chị nhờ cho vay tiền. Do chị không có tiền nên chon anh L2 mượn xe ô tô của chị mang đi cầm cố. Anh L2 đã mượn chị chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mazda 3 BKS 98A - 299.26 và cùng chị đến cầm cố cho T để chuộc chiếc xe ô tô mượn của N ra và vay thêm 200.000.000 đồng. T cắt lãi trước 01 tháng 30.000.000 đồng tiền lãi và chuyển khoản cho anh L2 số tiền 170.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng của chị. T đưa Hợp đồng mua bán xe để chị H1 viết bán xe ô tô này cho T. Chị H1 đã chuyển lại toàn bộ số tiền vay cho L2. Chị đã giao nộp Cơ quan điều tra 170.000.000 đồng. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mazda 3 BKS 98A - 299.26 cho chị và không có yêu cầu gì.
- Chị Hoàng Thị H2: Ngày 19/01/2024, chiếc xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI ACCENT BKS 98A – 623.78 là tài sản của chị. Chị đồng ý cho anh H mượn chiếc xe ô tô này để đi cầm cố vay tiền. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe ô tô cùng giấy tờ xe cho chị H2. Nay, chị không có yêu cầu gì.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích tính chất, nội dung hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo vẫn giữ nguyên về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt cải tạo không giam đối với bị cáo Lương Văn T từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng, nhưng được trừ 18 ngày do bị tạm giữ 06 ngày từ ngày 19/01/2024 đến ngày 25/01/2024, giao bị cáo cho UBND xã T giám sát, giáo dục. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự - Công an thành phố B nhận được Quyết định thi hành án.
- Do tỷ lệ thương tật cơ thể hiện tại của bị Lương Văn T là 91%. Hiện tại Lương Văn T đang mắc bệnh suy thận giai đoạn cuối (giai đoạn IV), đang chạy thận nhân tạo theo chu kỳ. Lương Văn T mắc bệnh hiểm nghèo; không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung; miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
- + Tịch thu xung công quỹ nhà nước số tiền gốc mà người vay tiền đã giao nộp gồm: 77.950.000 đồng của anh Nguyễn Ngọc L2; 170.000.000 đồng của chị
H1 do anh L2 đưa cho nộp; 16.150.000 đồng của Vũ Duy Q; 209.000.000 đồng của anh Lưu Văn H;
+ Truy thu số tiền gốc cho vay lãi của T sau khi đã đối trừ với số tiền lãi thu lợi bất chính phải trả cho người vay là 94.487.640 đồng và 7.688.440 tiền lãi hợp pháp.
+ Truy thu số tiền gốc của nhưng người vay trưa trả cho bị cáo T sau khi đối trừ số tiền lãi thu lời bất chính mà T phải trả cho người vay, gồm: Anh Nguyễn Ngọc L2 5.982.000 đồng;anh Vũ Duy Q là 93.160 đồng; anh Nguyễn Văn T2 là 164.131.600 đồng; anh Lưu Văn H là 1.205.600 đồng
Tiếp tục phong toả tài khoản Ngân hàng TMCP Q1 của Lương Văn T theo lệnh phong toả của Cơ quan điều tra để đảm bảo thi hành án với số dư tài khoản là 2.607.818 đồng.
+ Trả lại cho T 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO Reno 7Z 5G nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí: Áp dụng điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Phần tranh luận: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng: Bị cáo bị truy tố là đúng, không oan, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, nhưng đã có lời khai, đã được triệu tập hợp lệ, nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt theo Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[3]. Về tội danh:
Sau khi xem xét lời khai của các bị cáo, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có trong hồ sơ cũng như tại phiên toà, biên bản khám xét nơi ở của các bị cáo, cũng như tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định: Từ tháng 4/2023 đến tháng 1/2024, Lương Văn T cho anh Lương Công T1, Lương Văn D, Nguyễn Ngọc L2, Vũ Duy Q, Nguyễn Văn T2, Lưu Văn H vay tiền bằng hình thức vay trả lãi với mức lãi suất từ 140%/ 1 năm đến 255,5%/ 1 năm để thu lợi bất chính. Tổng số tiền mà T cho 6 người nêu trên vay là 739.000.000 đồng, số tiền lãi theo quy định pháp luật là 7.688.440 đồng, T thu lời bất chính là 66.511.560 đồng.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý tài chính. Bị cáo có năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Lương Văn T phạm tội “Cho vay lãi nặng
trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự, quy định: “1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với mức lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm”.
Do đó, Cáo trạng số: 132/CT-VKS ngày 19/6/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang truy tố đối với bị cáo Lương Văn T là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4]. Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
4.1. Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
4.2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tỏ ra ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo; bị cáo lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đang mắc bệnh hiểm nghèo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để áp dụng cho bị cáo theo điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Qua đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử cần xử phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo theo Điều 36 của Bộ luật hình sự.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Do tỷ lệ thương tật cơ thể hiện tại của bị cáo là 91%. Hiện tại, bị cáo đang mắc bệnh suy thận giai đoạn cuối (giai đoạn IV), đang chạy thận nhân tạo theo chu kỳ. Bị cáo mắc bệnh hiểm nghèo, không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung, miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo theo khoản 3 Điều 201 và khoản 3 Điều 36 của Bộ luật hình sự.
[6]. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
6.1. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền gốc mà người vay tiền đã giao nộp gồm: 77.950.000 đồng của anh Nguyễn Ngọc L2; 170.000.000 đồng của chị H1 do anh L2 đưa cho nộp; 16.150.000 đồng của Vũ Duy Q; 209.000.000 đồng của anh Lưu Văn H;
6.2. Truy thu số tiền gốc cho vay lãi của T sau khi đã đối trừ với số tiền lãi thu lợi bất chính phải trả cho người vay là 94.487.640 đồng và 7.688.440 tiền lãi hợp pháp. Tổng cộng 102.176.000 đồng (Một trăm linh hai triệu, một trăm bẩy mươi sáu nghìn đồng).
6.3. Truy thu số tiền gốc của nhưng người vay trưa trả cho bị cáo T sau khi đối trừ số tiền lãi thu lời bất chính mà T phải trả cho người vay, gồm: Anh Nguyễn Ngọc L2 5.982.000 đồng; anh Vũ Duy Q là 93.160 đồng; anh Nguyễn Văn T2 là 164.131.600 đồng; anh Lưu Văn H là 1.205.600 đồng.
6.4. Tiếp tục phong toả tài khoản Ngân hàng TMCP Q1 của Lương Văn T theo lệnh phong toả của Cơ quan điều tra để đảm bảo thi hành án với số dư tài khoản là 2.607.818 đồng.
6.5. Trả lại cho T 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO Reno 7Z 5G nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[7]. Về vấn đề khác có liên quan:
7.1. Đối với ông Lương Văn Ư cho Lương Văn T để nhờ chiếc xe ô tô BKS 89A – 137.96, nhưng không biết việc T có hành vi cho vay lãi nặng nên Cơ quan điều tra không xử lý, Hội đồng xét xử thấy là có căn cứ.
7.2. Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA SOLUTO BKS: 98A – 297.36, quá trình điều tra xác định thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Lương Văn T đang thế chấp vay tiền tại Ngân hàng TMCP Q2. Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo, Hội đồng xét xử thấy là có căn cứ.
7.3. Đối với Nguyễn Văn T2 bỏ đi khỏi địa phương, Cơ quan điều tra đã quyết định tách hành vi của Nguyễn Văn T2 cùng vật chứng là chiếc xe ô tô BKS 89A – 137.96 và tài liệu có liên quan để tiếp tục điều tra, Hội đồng xét xử thấy là có căn cứ.
[8]. Về án phí: Áp dụng điểm đ Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
[9]. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, để Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về điều luật áp dụng và hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Lương Văn T 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng cải tạo không giam giữ, về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, nhưng được trừ 18 ngày do bị tạm giữ 06 ngày (từ ngày 19/01/2024 đến ngày 25/01/2024). Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự - Công an thành phố B nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Lương Văn T cho UBND xã T, thành phố B giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
3.1. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền gốc mà người vay tiền đã giao nộp gồm: 77.950.000 đồng (Bẩy mươi bẩy triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng) của anh Nguyễn Ngọc L2; 170.000.000 đồng (Một trăm bẩy mươi triệu đồng) của chị H1 do anh L2 đưa cho nộp; 16.150.000 đồng (Mười sáu triệu một trăm năm mươi nghìn đồng) của Vũ Duy Q; 209.000.000 đồng (Hai trăm linh chín triệu đồng) của anh Lưu Văn H;
3.2. Truy thu số tiền gốc cho vay lãi của T số tiền lãi thu lợi bất chính phải trả cho người vay là 94.487.640 đồng và 7.688.440 tiền lãi hợp pháp. Tổng cộng 102.176.000 đồng (Một trăm linh hai triệu, một trăm bẩy mươi sáu nghìn đồng).
3.3. Truy thu số tiền gốc, gồm: Anh Nguyễn Ngọc L2 5.982.000 đồng (Năm triệu chính trăm tám mươi hai nghìn đồng); anh Vũ Duy Q là 93.160 đồng (Chín mươi ba nghìn một trăm sáu mươi đồng); a nh Nguyễn Văn T2 là 164.131.600 đồng (Một trăm sáu mươi tư triệu, một trăm ba mươi mốt nghìn sáu
trăm đồng); anh Lưu Văn H là 1.205.600 đồng (Một triệu hai trăm linh năm nghìn sáu trăm đồng).
3.4. Tiếp tục phong toả tài khoản Ngân hàng TMCP Q1 của Lương Văn T theo lệnh phong toả của Cơ quan điều tra để đảm bảo thi hành án với số dư tài khoản là 2.607.818 đồng (Hai triệu sáu trăm linh bẩy nghìn tám trăm mười tám đồng).
3.5. Trả lại cho T 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO Reno 7Z 5G nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
4. Áp dụng điểm đ Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lương Văn T.
5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Báo cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Trần Kiên |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Ngô Quyết Thắng - Nguyễn Thị Huệ | THẨM PHÁN -CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Trần Kiên |
Bản án số 145/2024/HS-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về hình sự - tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 145/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lương Văn Trường Cho vay lãi nặng
