|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 145/2024/HS-PT
Ngày 15 tháng 8 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngọ Thị Thanh Hảo;
- - Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Minh Hiền; Bà Hoàng Thị Hải Hường.
- - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- - Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Hoàng T - Kiểm sát viên trung cấp.
Trong ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 186/2024/TLPT-HS ngày 03 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn H do có kháng cáo của bị cáo với Bản án hình sự sơ thẩm số 122/2024/HS-ST ngày 23/5/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
* Bị cáo có kháng cáo:
Họ tên: Nguyễn Văn H, sinh năm 1984, tại tỉnh Bắc Giang. tên gọi khác: không. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Tổ dân phố Đ, phường B, thị xã V, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; văn hóa: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Văn T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1952; vợ: Tô Thị Đ, sinh năm 1991và có 03 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú, không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại, (có mặt tại phiên toà).
- Bị hại: Anh Hoàng Văn T2, sinh năm 1976. Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường B, thị xã V, tỉnh Bắc Giang, (có mặt).
- Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1955. Địa chỉ: Tổ dân phố K, phường B, thị xã V, tỉnh Bắc Giang, (vắng mặt).
- Anh Thân Đức S1, sinh năm 1982. Địa chỉ: Thôn Q, xã T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang, (vắng mặt).
- Chị Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1985. Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường B, thị xã V, tỉnh Bắc Giang, (có mặt).
- Anh Đặng Văn Đ1, sinh năm 1983. Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường B, thị xã V, tỉnh Bắc Giang, (có mặt).
- Anh Tống Văn T3, sinh năm 1981. địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường B, thị xã V, tỉnh Bắc Giang, (vắng mặt),
- Ông Tống Văn S2, sinh năm 1985, địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường B, thị xã V, tỉnh Bắc Giang, (vắng mặt),
* Người tham gia tố tụng khác:
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo không liên quan đến kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa phúc thẩm không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 09/4/2023, H đến dự tiệc khai trương quán Spa của anh anh Tống Văn S3, sinh năm 1990, ở tại tổ dân phố Đ, thị trấn B, huyện V thì gặp vợ chồng anh T2 cũng đến dự tiệc. H và anh T2 được sắp xếp ngồi trong cùng bàn tiệc hình chữ nhật với anh Nguyễn Ngọc S4, sinh năm 1986, anh Đặng Văn Đ1, sinh năm 1983, anh Nguyễn Văn T4, sinh năm 1981 đều ở cùng tổ dân phố với H và ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1955, trú tại tổ dân phố K, thị trấn B, huyện V, tỉnh Bắc Giang; chị H1 được sắp xếp ngồi ở bàn tiệc bên cạnh. Trong bàn tiệc, một bên H ngồi đầu bàn, tiếp đến anh T2, anh Đ1 ngồi cuối bàn; bên đối diện thì anh T4 ngồi đầu bàn đối diện với H, anh S4 ngồi giữa, ông S ngồi cuối trong cùng. H cùng mọi người ngồi ăn, uống rượu được khoảng 10 phút, anh T2 cầm chén rượu đứng dậy xin đi sang bàn khác để mời rượu giao lưu. Thấy vậy, H không đồng ý, đẩy anh T2 ngồi lại xuống ghế của anh T2, làm chén rượu đang cầm trên tay anh T2 rơi xuống mặt bàn, rượu bắn vào người H. Lúc này, anh T2 ngồi lại ghế của mình thì H và anh T2 xảy ra cãi nhau. Chị H1 ngồi ở bàn bên cạnh bảo anh T2 đứng dậy, không ngồi cùng bàn với H thì lập tức H mắng chửi lại chị H1 và anh T2. Sau đó trong lúc cãi nhau, thấy anh T2 xưng hô “Mày- tao”, cho rằng anh T2 không tôn trọng Hiệp, nên H đứng dậy dùng tay phải cầm miệng chiếc bát bằng sứ (loại bát con dùng ăn cơm, hình bán cầu, đường kính miệng bát rộng 11cm, đường kính đáy bát rộng 4,5cm) ở mặt bàn giơ lên đập một nhát phần đáy bát theo hướng từ trước về sau trúng vào vùng mũi anh T2, làm anh T2 bị thương chảy máu. Thấy vậy, mọi người vào can ngăn không cho đánh nhau, H bỏ lại bát ở bàn tiệc rồi bỏ đi, anh T2 được chị H1 đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B điều trị thương tích, đến ngày 20/4/2023 thì ra viện.
Ngày 10/4/2023, anh Hoàng Văn T2 làm đơn trình báo hành vi cố ý gây thương tích của H đến Công an thị trấn B, huyện V. Cùng ngày, Công an thị trấn B tiến hành xác định hiện trường và thu giữ tại camera an ninh nhà anh Tống Văn S3 01 đoạn video ghi lại một phần diễn biến sự việc H gây thương tích đối với anh T2.
Tại bản Kết luận giám định số 1384/23/KLTTCT-TTPY ngày 04/5/2023 của Trung tâm pháp y- Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận về thương tích của anh Hoàng Văn T2: Thương tích vết sẹo kích thước nhỏ sống mũi + CT-Scanner hàm mặt: Gãy xương chính mũi, gãy vách ngăn mũi xương: 12%. Thương tích do vật tày gây nên, không xác định được chiều hướng gây thương tích.
Tại bản kết luận giám định bổ sung vật gây thương tích số 1422/23/KLVGTT-TTPY ngày 19/5/2023 của Trung tâm pháp y- Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận: đối với 02 chiếc bát con ăn cơm thu giữ của anh Q là các vật gây ra được thương tích của anh Hoàng Văn T2 như hồ sơ bệnh án.
Tại văn bản số 34/BVĐK-TTPY ngày 31/5/2023, Trung tâm pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh B giải thích kết luận giám định số 1384/23/KLTTCT-TTPY ngày 04/5/2023 về thương tích của anh Hoàng Văn T2 thể hiện: Nguyễn Văn H dùng tay đấm gây được thương tích cho anh Hoàng Văn T2 theo hồ sơ bệnh án.
Ngày 05/6/2023, Nguyễn Văn H có đơn không đồng ý với kết quả giám định pháp y tại bản Kết luận số 1384/23/KLTTCT-TTPY ngày 04/5/2023 của Trung tâm pháp y- Bệnh viện đa khoa tỉnh B đối với thương tích của anh Hoàng Văn T2 vì cho rằng kết quả giám định trên không khách quan, đề nghị giám định lại thương tích.
Ngày 08/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện V ra Quyết định trưng cầu Viện pháp y Quốc gia giám định lại thương tích của anh Hoàng Văn T2.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 117/23/KLTTCT- PYQG ngày 26 tháng 6 năm 2023 của V kết luận: Sẹo vùng gốc mũi kích thước nhỏ. Gãy xương chính mũi đã phẫu thuật hiện tại không biến dạng hay mất liên lục. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại của anh T2 là: 12%. Thương tích vùng mũi của anh Hoàng Văn T2 do vật tày tác động trực tiếp theo chiều hướng từ trước sau gây ra. Chiếc bát sứ màu trắng gửi đến giám định (bát thu của anh Q) có thể gây nên thương tích của Hoàng Văn T2. Chiếc bát nhựa màu xanh gửi đến giám định (bát thu của anh Q) không thể gây nên thương tích của anh Hoàng Văn T2. Dùng tay đấm không gây được thương tích cho anh Hoàng Văn T2 theo hồ sơ bệnh án.
Do kết luận giám định về vật gây thương tích của Trung tâm pháp y - Bệnh viện đa khoa tỉnh B và V đối với thương tích của anh T2 có mâu thuẫn nên ngày 27/7/2023, Cơ quan điều tra đã trưng cầu Viện pháp y Quốc gia giám định lại lần hai đối với vật gây thương tích cho anh Hoàng Văn T2.
Tại Kết luận giám định lại lần thứ hai tổn thương cơ thể trên người sống số 167/KLTTCT- PYQG ngày 18/9/2023 của V kết luận: Chiếc bát nhựa màu xanh gửi đến giám định khi tác động trực tiếp vào vùng mũi có khả năng gây ra thương tích cho anh Hoàng Văn T2 theo hồ sơ bệnh án. Dùng tay đấm vào vùng mũi có thể gây ra thương tích cho anh Hoàng Văn T2 theo hồ sơ bệnh án.
Tại văn bản số 80/ BVĐK-TTPY ngày 01/11/2023, Trung tâm pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh B giải thích kết luận giám định số 1384/23/KLTTCT-TTPY ngày 04/5/2023 của anh Hoàng Văn T2: Nguyễn Văn H dùng tay đấm (có móng tay) hay dùng bát đập đều gây được vết sẹo sống mũi cho anh Hoàng Văn T2.
Tại văn bản số 338/ BVĐK-TTPY ngày 22/5/2024, V giải thích về ngày kết luận giám định pháp y ngày 26/6/2023 và ngày 18/9/2023 như sau:
- - Kíp giám định ngày 26/6/2023: Đánh giá tình huống cụ thể trong kết luận tổng thể nhiều nội dung khi xác định các tình huống thường gặp căn cứ vào trọng lượng vật khi tác động vị trí mũi bị tác động và đặc điểm vết thương ở mũi đặc điểm cây gãy xương mũi đặc điểm tính chất cạnh bát của bát nhựa màu xanh và chiếc bát sứ màu trắng được gửi đến giám định: chiếc bát nhựa màu xanh không có khả năng gây tổn thương; bàn tay khi tác động trực tiếp trong những tư thế phổ biến đặc điểm tính chất vị trí tác động nắm chặt tạo các mặt phẳng hoặc cạnh dài khi tác động trực diện thông thường không có khả năng gây ra Các thương tích dẫn đến xây xát rách ra gây gãy xương gây gãy sập xương chính mũi di lệch nhiều hoặc tổn thương lan rộng phức tạp. Hội đồng giám định lần 2 ngày 26 tháng 6 a ngày 18 tháng 9 năm 2023 như sau. Xác định khả năng gây thương tích trong các tình huống thường gặp gây thương tích tuy nhiên ở một số tình huống tác động đặc biệt có khả năng gây ra được thương tích vùng mũi của hoàng văn thắng căn cứ tính chất trước bát nhựa màu xanh có tính chất cứng nếu khi tác động phần đáy bát trực tiếp bởi lực đủ mạnh như cầm đập hoặc tác động tương hỗ với cơ thể có thể gây ra được các thương tích xây xát da ở mũi và gãy xương chính mũi của Hoàng Văn T2 đối với bạn tay khi nắm chặt không có tròn bàn tay. Có các điểm lồi hoặc đều hoặc đầu ngón tạo các điểm nhô ra tiếp xúc tác động trực tiếp với tư thế và khoảng cách phù hợp tạo lực tác động mạnh cũng có thể gây ra thương tích xây xát da ở mũi và gây xương chính mũi của Hoàng Văn T2 việc đánh giá nhận định độc lập. Của các giám định viên và các kíp giám định dựa trên cơ sở câu hỏi của cơ quan trưng cầu nghiên cứu thương tích của hoàng văn thắng trực tiếp giám định nhận định đánh giá khả năng gây thương tích trên cơ sở giả định Các thương tích dẫn đến xây xát rách ra gây gãy xương gây gãy sập xương chính mũi di lệch nhiều hoặc tổn thương lan rộng phức tạp.
- Hội đồng giám định lần 2 ngày 18/9/2023: Xác định khả năng gây thương tích trong các tình huống thường gặp gây thương tích tuy nhiên ở một số tình huống tác động đặc biệt có khả năng gây ra được thương tích vùng mũi của Hoàng Văn T2 căn cứ tính chất chiếc bát nhựa màu xanh có tính chất cứng nếu khi tác động phần đáy bát trực tiếp bởi lực đủ mạnh như cầm đập hoặc tác động tương hỗ với cơ thể có thể gây ra được các thương tích xây xát da ở mũi và gãy xương chính mũi của Hoàng Văn T2. Đối với bạn tay khi nắm chặt không vo tròn bàn tay, có các điểm lồi hoặc đều hoặc đầu ngón tạo các điểm nhô ra tiếp xúc tác động trực tiếp với tư thế và khoảng cách phù hợp tạo lực tác động mạnh cũng có thể gây ra thương tích xây xát da ở mũi và gây gẫy xương chính mũi của Hoàng Văn T2. Việc đánh giá nhận định độc lập của các giám định viên và các kíp giám định dựa trên cơ sở câu hỏi của cơ quan trưng cầu, nghiên cứu thương tích của Hoàng Văn T2 trực tiếp giám định nhận định đánh giá khả năng gây thương tích trên cơ sở giả định. Các tình huống theo quyết định trưng cầu trả lời về khả năng gây tổn thương nên kết quả các kết luận có thể sẽ khác nhau.
Trách nhiệm dân sự: bị cáo đã bồi thường trách nhiệm dân sự cho người bị hại là 50.000.000 đồng. Người bị hại không có yêu cầu gì khác và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Từ nội dung trên Bản án hình sự sơ thẩm số 122/2024/HS-ST ngày 23/5/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang đã xử: Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn từ tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo cho bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Sau khi cấp sơ thẩm xét xử xong, ngày 30/5/2024 bị cáo Nguyễn Văn H kháng cáo bản án sơ thẩm với lý do mức hình phạt đối với bị cáo là nặng và không đúng tội, bị cáo bị oan, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại minh oan cho bị cáo.
- Tại phiên tòa phúc thẩm:
- + Bị cáo trình bày: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội gây thương tích cho anh T2 12%, cấp sơ thẩm xử bị cáo đúng người, đúng tội, nay bị cáo không kêu oan. Bị cáo kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo và xem xét hành vi gây thương tích của bị cáo cho anh T2 không phải có tính chất côn đồ vì giữa bị cáo và anh T2 có mâu thuẫn từ năm 2021, được Toà án thị xã Việt Yên xét xử, từ đó bị cáo vẫn có bực tức với bị hại, tại bữa tiệc liên hoan nhà anh S3, bị hại làm bắn rượu vào người bị cáo, hai bên xẩy ra xô sát, cãi cọ nhau, bị cáo không kìm chế được đã gây thương tích cho bị hại. Bị cáo hứa từ nay về sau không xích mích với bị hại và những người hàng xóm. Hoàn cảnh gia đình bị cáo phải nuôi ba con và mẹ già, bị cáo là lao động chính trong gia đình.
- + Bị hại trình bày: Nguyên nhân bị cáo gây thương tích cho anh là do giữa anh và bị cáo đã có mâu thuẫn từ năm 2021 và sự việc xảy ra tại bữa tiệc liên hoan nhà anh S3 như bị cáo trình bày là đúng. Đến nay bị cáo đã nhận thức được hành vi của bị cáo gây ra với anh, đã bồi thường cho anh số tiền 50.000.000 đồng. Anh đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm cho bị cáo được hưởng án treo, để bị cáo có thời gian chăm sóc gia đình của bị cáo, anh không yêu cầu bị cáo phải bồi thường về dân sự.
- - Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án đã kết luận và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự. Sửa bản án sơ thẩm số 122/2024/HS-ST ngày 23/5/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, Bộ luật hình sự (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự. Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Văn H cho Ủy ban nhân dân phường B, thị xã V, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm
Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với quan điểm về giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo đã được làm trong thời hạn quy định của pháp luật theo đúng quy định tại Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp. Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.
- Xét nội dung kháng cáo của bị cáo:
- [2.1]. Đối với kháng cáo của bị cáo phạm tội không có tính chất côn đồ thì thấy: Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo thừa nhận cấp sơ thẩm xử bị cáo về tội cố ý gấy thương tích theo điểm đ khoản 2 Điều 134 là đúng người, đúng tội bị cáo không kháng cáo kêu oan. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét cho bị cáo phạm tội không có tính chất côn đồ. Theo tài liệu có trong hồ sơ và tại phiên toà, bị cáo, bị hại đều thừa nhận hai bên có mâu thuẫn từ năm 2021, sự việc được giải quyết tại Toà án, nhưng bị cáo vẫn bực tức đối với bị hại. Do vậy, tại bữa liên hoan nhà anh S3, bị hại có làm rượu bắt vào người bị cáo, dẫn đến hai bên có xảy ra xô sát, cãi cọ nhau, do có những bức xúc từ trước, bị cáo không kìm chế được, bị cáo đã gây thương tích cho bị hại. Cấp sơ thẩm xác định bị cáo gây thương tích cho bị hại có tính chất côn đồ là không chính xác. Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo và không áp dụng tình tiết có tính chất côn đồ theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình như đại diện Viện kiểm sát tỉnh Bắc Giang đề nghị là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
- [2.2]. Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy:
- - Về nhân thân: bị cáo chưa có tiền án tiền sự có nhân thân tốt.
- - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- + Cấp sơ thẩm đã xác định: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi hành vi phạm tội xảy ra bị cáo đầu thú, bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba, Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng nhất, nhì và mẹ đẻ được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự
- + Cấp phúc thẩm: Bị cáo nộp biên lai nộp tiền thu tiền án phí theo Quyết định của bản án sơ thẩm, tài liệu địa phương nơi bị cáo cư trú xác nhận trước khi phạm tội bị cáo thực hiện tốt các quy định của địa phương, không có vi phạm gì. Bị cáo được Uỷ ban Mặt trận tổ quốc phường B ghi nhận tấm lòng vàng vì đã có nghĩa cử cao đẹp ủng hộ “Tết vì người nghèo” năm 2024. Bị hại tiếp tục có đơn xin cho bị cáo được hưởng án treo. Đây là những tình tiết mới ở cấp phúc thẩm cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự
- [3.3]. Đối với kháng cáo của bị cáo xin được hưởng án treo thì thấy: Tại cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp thêm tình tiết mới nêu trên, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Việc không bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cũng không gây ảnh hưởng xấu trong quá trình đấu tranh phòng chống tội phạm. Để đảm bảo tính nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước, nên không cần phải cách ly khỏi xã hội, mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ để bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị giữ nguyên mức hình phạt 02 năm tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/04/2022 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo. Nên Hội đồng xét xử thấy có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, cần sửa bản án sơ thẩm giữ nguyên hình phạt nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật.
- [3]. Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, sửa bản án sơ thẩm của. Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên về phần hình phạt đối với bị cáo.
- [4]. Đối với số tiền 200.000 đồng bị cáo đã nộp theo biên lai số 0001497 ngày 08/8/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Việt Yên được trừ vào tiền án phí hình sự sơ thẩm đã tuyên tại bản án hình sự sơ thẩm. (Xác định bị cáo đã thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm theo bản án số 122/2024/HS-ST ngày 23/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang)
- [5]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Do bản án sơ thẩm bị sửa, nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- [6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Sửa bản án sơ thẩm số 122/2024/HS-ST ngày 23/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Xử:
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự), điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự. Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường B, thị xã V, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngọ Thị Thanh Hảo |
Bản án số 145/2024/HS-PT ngày 15/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về vụ án hình sự (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 145/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo H phạm tội có ý gây thương tích
