|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 145/2024/HNGĐ-ST Ngày 14-6-2024 V/v tranh chấp xác định cha cho con |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Phích
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thanh Hải
Bà Cao Thị Hạ
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thủy Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân thân thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Trang Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án thụ lý số 107/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 04 năm 2024 về việc tranh chấp xác định cha cho con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 124/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị M; nơi cư trú: Thôn K, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
- Bị đơn: Anh L; nơi thường trú: Số C, L, làng H, thị trấn N, huyện Q, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc; nơi ở hiện tại: Lô C, cụm C, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn M1; nơi cư trú cuối cùng ở Việt Nam: Thôn X, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nơi ở hiện tại: Số C, đường T, quận T, D Đ, Đài Loan; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn là chị Bùi Thị M trình bày:
Chị Bùi Thị M kết hôn với anh Nguyễn Văn M1 trên cơ sở tự nguyện của hai bên, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng vào ngày 21 tháng 7 năm 2008. Quá trình chung sống, vợ chồng hạnh phúc đến khoảng năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Tại Bản án ly hôn sơ thẩm số 267/2023/HNGĐ-ST ngày 22/11/2023 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng đã giải quyết cho chị M và anh M1 được ly hôn. Chị M và anh M1 chỉ có một con chung là cháu Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 29/9/2008, giới tính nam. Trong thời gian ly thân với anh Nguyễn Văn M1, chị M quen anh Li Ze P và đã nảy sinh quan hệ tình cảm với nhau. Sau đó chị M đã mang thai với anh Li Ze P và sinh một bé trai vào ngày 13/01/2023 theo Giấy chứng sinh số 133 quyển số 01 tại Bệnh viện Q, Hải Phòng cấp ngày 13/01/2023.
Nay, để làm giấy khai sinh cho bé trai nêu trên có cả tên bố và mẹ, chị M làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xác định anh Li Z Ping là cha đẻ của cháu trai mà chị M sinh ra vào ngày 13/01/2023 theo Giấy chứng sinh số 133 quyển số 01 tại Bệnh viện Q, Hải Phòng cấp ngày 13/01/2023.
Tại Bản tự khai anh Li Ze P trình bày như sau:
Anh Li Ze P và chị Bùi Thị M quen biết nhau và nảy sinh quan hệ tình cảm với nhau. Sau đó chị Bùi Thị M đã mang thai với anh Li Ze P và sinh một bé trai vào ngày 13/01/2023 theo Giấy chứng sinh số 133 quyển số 01 tại Bệnh viện Q, Hải Phòng cấp ngày 13/01/2023. Anh Li Ze P khẳng định cháu bé mà chị M sinh ra vào ngày 13/01/2023 theo Giấy chứng sinh số 133 quyển số 01 tại Bệnh viện Q, Hải Phòng là con đẻ của anh Li Ze P.
Nay, để làm giấy khai sinh cho bé trai nêu trên có cả tên bố và mẹ nên chị Bùi Thị M làm đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng yêu cầu xác định anh Li Z Ping là cha đẻ của bé trai mà chị Bùi Thị M sinh ra vào ngày 13/01/2023 thì anh Li Ze P hoàn toàn đồng ý, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị M.
Tại Đơn đề nghị (đã được hợp pháp hóa lãnh sự) của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn M1 trình bày như sau:
Anh Nguyễn Văn M1 và chị Bùi Thị M kết hôn trên cơ sở tự nguyện của hai bên và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng vào ngày 21 tháng 7 năm 2008. Quá trình chung sống, vợ chồng hạnh phúc đến khoảng năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn, từ đó anh M1 và chị M sống ly thân. Tại Bản án ly hôn sơ thẩm số 267/2023/HNGĐ-ST ngày 22/11/2023 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng đã giải quyết cho anh M1 và chị M được ly hôn. Anh M1 và chị M chỉ có một con chung là cháu Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 29/9/2008, giới tính nam. Anh M1 được biết trong thời gian anh chị ly thân, chị M có quan hệ tình cảm với anh Li Ze P và chị M đã sinh một bé trai vào ngày 13/01/2023 theo Giấy chứng sinh số 133 quyển số 01 tại Bệnh viện Q, Hải Phòng cấp ngày 13/01/2023. Anh Nguyễn Văn M1 khẳng định bé trai nêu trên không phải là con chung của anh M1 và chị M mà là con chung của chị M và anh Li Ze P.
Nay chị Bùi Thị M làm đơn khởi kiện về việc xác định anh Li Z Ping là cha đẻ của bé trai mà chị Bùi Thị M sinh ra vào ngày 13/01/2023 theo Giấy chứng sinh số 133 quyển số 01 tại Bệnh viện Q, Hải Phòng cấp ngày 13/01/2023, anh M1 đồng ý và không có ý kiến tranh chấp gì.
Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử: Xác định anh Li Ze P là cha đẻ của bé trai mà chị Bùi Thị M sinh ra vào ngày 13/01/2023 theo Giấy chứng sinh số 133 quyển số 01 tại Bệnh viện Q, Hải Phòng cấp ngày 13/01/2023. Ngoài ra đề nghị tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Bùi Thị M khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định anh Li Ze P là cha đẻ của bé trai do chị sinh ra vào ngày 13/01/2023. Nguyên đơn là chị Bùi Thị M hiện nay đang sinh sống tại Hải Phòng, bị đơn là anh Li Ze P và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn M1 có nơi cư trú ở Đài Loan. Theo quy định tại khoản 4 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự, quan hệ pháp luật trong vụ án là “tranh chấp xác định cha cho con” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
[2] Về việc vắng mặt của các đương sự: Chị Bùi Thị M, anh Li Ze P và anh Nguyễn Văn M1 vắng mặt nhưng cùng có yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Do vậy, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về việc xác định cha cho con: Theo lời khai của chị Bùi Thị M, anh Li Ze P và anh Nguyễn Văn M1 đều thống nhất thể hiện: Bé trai do chị M sinh ra vào ngày 13/01/2023 theo Giấy chứng sinh số 133 quyển số 01 tại Bệnh viện Q, Hải Phòng cấp ngày 13/01/2023 là con chung của anh Li Ze P và chị M. Tại Kết luận giám định số 1386/KL-KTHS của Phòng K - Công an thành phố H ngày 08 tháng 5 năm 2024 thể hiện anh Li Ze P và bé trai do chị M sinh ra vào ngày 13/01/2023 theo Giấy chứng sinh số 133 quyển số 01 tại Bệnh viện Q, Hải Phòng có cùng quan hệ huyết thống trực hệ bố-con. Xét thấy có đủ cơ sở xác định anh Li Ze P là cha đẻ của bé trai do chị Bùi Thị M sinh ra, căn cứ vào Điều 88, Điều 89 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu xác định cha cho con của chị Bùi Thị M.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu xác định cha cho con của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Trả lại chị Bùi Thị M số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[5] Về quyền kháng cáo: Chị Bùi Thị M, anh Li Ze P và anh Nguyễn Văn M1 được quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 88, Điều 89, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị M về việc xác định cha cho con:
Xác định anh Li Ze P là cha đẻ của bé trai do chị Bùi Thị M sinh ra vào ngày 13/01/2023 theo Giấy chứng sinh số 133 quyển số 01 tại Bệnh viện Q, thành phố Hải Phòng cấp ngày 13/01/2023.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Trả lại chị Bùi Thị M số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000324 ngày 17 tháng 4 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.
Anh Li Ze P phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc xác định cha cho con.
3. Về quyền kháng cáo:
Chị Bùi Thị M được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Anh Li Ze P được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.
Anh Nguyễn Văn M1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014./.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Phích |
Bản án số 145/2024/HNGĐ-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp xác định cha cho con
- Số bản án: 145/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp xác định cha cho con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xác định cha cho con
