Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ VIỆT YÊN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 145/2024/HS-ST

Ngày: 09-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG.


Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Tuyết

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Thanh Văn

Ông Nguyễn Quang Kim

Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Minh Nguyệt – Thư ký TAND thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang

Đại diện VKSND thị xã Việt Yên tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị T – Kiểm sát viên.

Trong ngày 09/7/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 130/2024/TLST - HS ngày 30/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 139/2024/QĐXXST–HS ngày 27/6/2024, đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Dương Công D, sinh năm 1998; Tên gọi khác: không; Nơi cư trú: Thôn P, xã N, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Công Q và bà Dương Thị H; vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 170 ngày 23/9/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xử phạt Dương Công D 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/9/2021, chấp hành xong án phí ngày 18/12/2020.

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/02/2024 đến nay. Hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt tại phiên tòa).

2. Họ và tên: Dương Văn T1, sinh năm 1997; Tên gọi khác: không; Nơi cư trú: Thôn L, xã N, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Văn S và bà Dương Thị L; vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự, nhân thân: không.

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/02/2024 đến nay. Hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Chị Lương Thị L1 – sinh năm 1986 (vắng mặt)

Địa chỉ: tổ dân phố M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang

- Người làm chứng:

  • 1. Anh Trần Đức C – sinh năm 1996 (vắng mặt)
  • 2. Anh Hoàng Văn M – sinh năm 1991 (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 30 phút ngày 29/02/2024, tại phòng trọ số B, tầng 3 nhà trọ của chị Lương Thị L1, sinh năm 1986, ở tổ dân phố M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã V, tỉnh Bắc Giang phát hiện, bắt quả tang các đối tượng Dương Văn T1, sinh năm 1997, trú tại thôn L, xã N, huyện B, tỉnh Lạng SơnDương Công D, sinh năm 1998, trú tại thôn P, xã N, huyện B, tỉnh Lạng Sơn đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để bán cho người khác. Tang vật thu giữ: thu giữ tại lòng bàn tay trái của Dương Công D: 01 gói giấy bạc được gấp kín, có hai mặt, một mặt màu vàng, một màu màu trắng, bên trong gói giấy bạc chứa chất cục bột màu trắng; 01gói giấy ô ly màu trắng, được gấp kín, bên trong chứa chất cục bột màu trắng, D khai là ma túy Heroine, được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “QT”. Sau khi lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với D, T1 xong, Cơ quan điều tra khám xét phòng trọ nơi cả hai ở, kết quả thu giữ tại cửa sổ 01 chiếc dao lam cùng 05 mảnh giấy màu trắng, dạng giấy ô ly. Cơ quan điều tra sử dụng que test Drugs kiểm tra việc sử dụng chất ma túy của D, T1 và các anh Hoàng Văn M, sinh năm 1991, trú tại Bản Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cao Bằng, Trần Đức C, sinh năm 1996, trú tại xóm Q, xã Q, huyện N, tỉnh Cao Bằng là người ở cùng phòng trọ, có mặt trong phòng khi Công an vào bắt quả tang; kết quả kiểm tra: D, T1 đều dương tính với chất ma túy M1, anh M và anh C âm tính với chất ma túy.

Cùng ngày, 29/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã V ra Quyết định trưng cầu Phòng K - Công an tỉnh B giám định chất ma túy đối với số vật chứng nghi là ma túy được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “QT” thu giữ khi bắt quả tang đối tượng DT1.

Tại Kết luận giám định số 492/KL-KTHS ngày 05/3/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B kết luận: “Trong một phong bì ký hiệu “QT” được niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 (một) gói giấy bạc có một mặt màu vàng, một mặt màu trắng là ma túy, có khối lượng 0,060gam, loại Heroine (Heroin); Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 (một) gói giấy màu trắng, có dòng kẻ ô ly là ma túy, có khối lượng 0,070 gam, loại Heroine (H).

Quá trình điều tra, các bị can khai nhận: Dương Công DDương Văn T1 quen biết nhau, cùng là người hay sử dụng trái phép chất ma túy và quen biết anh M từ trước. Ngày 27/02/2024, D, T1 cùng đến ở nhờ tại phòng trọ của anh M đang thuê trọ ở cùng anh C tại tổ dân phố M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang, mục đích để đi xin việc làm. Chiều ngày 28/02/2024, trong lúc anh M, anh D không có trong phòng trọ, DT1 cùng rủ nhau góp tiền đi mua ma túy H1 đem bán cho người khác lấy tiền thu lời để sử dụng chi tiêu chung cho cả hai. D tự bỏ ra 250.000 đồng, T1 đưa cho D 250.000 đồng để D đi mua ma túy mang về phòng trọ chia nhỏ ra bán cho người khác. Khoảng 15 giờ cùng ngày, D đi bộ một mình đến khu vực bãi đất trống gần nghĩa trang thuộc tổ dân phố M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang mua của một người đàn ông không biết họ tên, địa chỉ 01 gói ma túy đựng bằng giấy bạc hai mặt, một mặt màu trắng, một mặt màu vàng, bên trong chứa chất cục bột màu trắng là ma túy Heroine với số tiền 500.000 đồng. Khoảng 17 giờ cùng ngày, D cầm số ma túy mua được mang về phòng trọ của anh M, lúc này chỉ có DT1 ở trong phòng còn anh M và anh C đi làm công nhân chưa về, D thông báo cho T1 đã mua được ma túy và bỏ gói ma túy vừa mua được ra chia nhỏ để bán. D sử dụng dao lam chia số ma túy vừa mua được thành 05 phần rồi gói trong hai loại giấy, một loại giấy bạc có hai mặt một mặt màu trắng, một mặt màu vàng và một loại giấy ô ly màu trắng có dòng kẻ. Sau đó, T1 cầm 02 (hai) gói ma túy vừa chia được cất giấu vào trong người đi khỏi phòng trọ để bán cho người khác. Lúc này, D đem hai gói ma túy cất giấu ở dưới đệm trên giường để bán cho người khác và đem một gói ma túy đi vào nhà vệ sinh trong phòng tự sử dụng hết. T1 đi bộ đến khu vực bãi đất trống thuộc tổ dân phố M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang bán 01 gói ma túy cho 01 người đàn ông không biết tên, địa chỉ được 200.000 đồng. Bán ma túy xong, T1 tự lấy gói ma túy còn lại ra sử dụng một mình hết. Khoảng 20 giờ cùng ngày, T1 đi về phòng trọ nói cho D biết T1 bán được một gói ma túy được 200.000 đồng, tự sử dụng hết một gói, lúc này D cũng nói đã tự sử dụng hết một gói, hai gói còn lại cất đi để bán. Sau đó, T1, D đi chi tiêu cùng nhau hết số tiền bán ma túy có được rồi về phòng trọ ngủ. Khoảng 08 giờ ngày 29/02/2024, anh M, anh Cường đ làm đêm về phòng trọ ngủ cùng D, T1. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 29/02/2024, trong lúc D, T1 đang ở trong phòng trọ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã V phát hiện, kiểm tra, bắt giữ D, T1 và thu toàn bộ 02 gói ma túy Heroin còn lại D đang cất giấu trong lòng bàn tay trái.

Tại bản cáo trạng số 140/CT-VKS ngày 29/5/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên đã truy tố Dương Công DũngDương Văn Thái ra trước Toà án nhân dân thị xã Việt Yên để xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà: Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là không oan, các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai và vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa. Hội đồng xét xử công bố lời khai của họ. Các bị cáo không có ý kiến gì về những lời khai đó.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • 1. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Dương Công D từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 29/02/2024.
  • 2. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Dương Văn T1 từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 29/02/2024.

Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • + Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì có ký hiệu “QT” được niêm phong bằng dấu của phòng K - công an tỉnh B, có chữ ký của Giám định viên và đại diện cơ quan trưng cầu giám định, bên trong có mẫu vật hoàn lại sau giám định (0,105 gam ma túy, loại Heroine); 01 phong bì ký hiệu “KX” được niêm phong bằng dấu của phòng K - công an tỉnh B và đại diện Cơ quan trưng cầu giám định, bên trong có chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định (01 con dao lam); 05 mảnh giấy màu trắng, có ô ly, trên mặt giấy có nhiều chữ và số.
  • + Truy thu sung công quỹ nhà nước: 200.000 đồng của Dương Công DDương Văn T1, cụ thể: Dương Công D số tiền 100.000 đồng, Dương Văn T1 số tiền 100.000 đồng.

Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Kiểm sát viên

Lời nói sau cùng: Các bị cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên, Kiểm sát viên trong quá trình Điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình Điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng nhưng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra. Việc vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Tại phiên toà hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình gây ra. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Ngày 28/02/2024, trong lúc Dương Công DDương Văn T1 ở trọ cùng nhau tại phòng trọ ở tổ dân phố M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang, cả hai cùng rủ nhau góp tiền chung (mỗi người góp 250.000 đồng) để mua ma túy H2 đem bán cho người khác lấy tiền chi tiêu chung. Sau đó, D đi mua của một người không quen biết 01 gói ma túy H2 đem về phòng trọ chia nhỏ thành 05 gói ma túy khác nhau để bán. Buổi tối cùng ngày 28/02/2024, T1 đem 02 gói ma túy đến bãi đất trống thuộc tổ dân phố M, phường N, thị xã V để bán; T1 bán được 01 gói cho 01 người không quen biết được 200.000 đồng, tự sử dụng hết 01 gói ma túy. D ở phòng trọ cũng tự sử dụng hết 01 gói ma túy, 02 gói ma túy còn lại có tổng khối lượng 0,130gam D cất giấu trong phòng trọ để cả hai bán. Hồi 10 giờ 30 phút ngày 29/02/2024, trong lúc D, T1 chưa kịp bán hai gói ma túy Heroin còn lại nêu trên thì bị Công an thị xã V phát hiện bắt quả tang, thu giữ cùng một số vật chứng khác có liên quan. Số tiền bán ma túy có được cả hai đã chi tiêu chung hết.

[4] Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi nêu trên của các bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Do vậy, Cáo trạng số 140/CT-VKS ngày 29/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên truy tố các bị cáo về tội danh và Điều luật như trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[5] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ chất ma túy là vật Nhà nước cấm lưu hành, là một trong những tệ nạn xã hội cần bài trừ, là một trong những nguyên nhân dẫn tới các hành vi phạm tội khác như trộm cắp, cướp tài sản, giết người..., là nguyên nhân dẫn tới gia đình ly tán, đã và đang ảnh hưởng rất lớn tới đời sống xã hội. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm các bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[6] Xét về nhân thân, tiền án, tiền sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

Về nhân thân: Bị cáo Dương Văn T1 chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo Dương Công D có nhân thân xấu, đã bị Tòa án đưa ra xét xử về hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7] Xét vai trò của các bị cáo thì thấy: đây là vụ án đồng phạm mang tính chất giản đơn, tuy các bị cáo cùng góp tiền để mua ma túy, nhưng bị cáo D là người cầm tiền, trực tiếp đi mua ma túy, là người chia nhỏ ma túy để sử dụng và để bán, bị cáo T1 chỉ mang ma túy đi bán nên bị cáo D có vai trò cao hơn bị cáo T1.

[8] Xét tính chất vụ án, mức độ và hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát mới có đủ điều kiện để cải tạo các bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

Xét về mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị, Hội đồng xét xử thấy là phù hợp với hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra.

Về hình phạt bổ sung: các bị cáo không có tài sản, thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

[9] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì có ký hiệu “QT” được niêm phong bằng dấu của phòng K - công an tỉnh B, có chữ ký của Giám định viên và đại diện cơ quan trưng cầu giám định, bên trong có mẫu vật hoàn lại sau giám định (0,105 gam ma túy, loại Heroine); 01 phong bì ký hiệu “KX” được niêm phong bằng dấu của phòng K - công an tỉnh B và đại diện Cơ quan trưng cầu giám định, bên trong có chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định (01 con dao lam); 05 mảnh giấy màu trắng, có ô ly, trên mặt giấy có nhiều chữ và số là vật Nhà nước cấm lưu hành và công cụ, phương tiện sử dụng vào việc phạm tội, cần tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 200.000 đồng các bị cáo bán ma túy có được là tiền thu lời bất chính, các bị cáo đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết, do vậy cần truy thu sung công quỹ Nhà nước, cụ thể: truy thu của Dương Công D số tiền 100.000 đồng, Dương Văn T1 số tiền 100.000 đồng.

[10] Đối với người đàn ông bán ma túy cho D và người đàn ông mua ma túy từ T, các bị cáo không biết là ai, Cơ quan điều tra đã xác minh tại địa điểm các bị cáo khai mua, bán ma túy nhưng không xác định được ai nên tách ra để tiếp tục điều tra và đề nghị xử lý sau. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[11] Các anh Hoàng Văn M, anh Trần Đức C và chị Lương Thị L1 không biết các bị cáo mua, cất giấu ma túy và sử dụng ma túy trong phòng trọ nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[12] Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của D, T1 vào ngày 28/02/2024, Trưởng Công an thị xã V đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với DT1 theo quy định của pháp luật. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[13] Các bị cáo hiện đang tạm giam để đảm bảo việc thi hành án, cần tiếp tục tạm giam bị cáo theo Điều 329 BLTTHS.

[14] Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, cần áp dụng Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự để tuyên quyền kháng cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự;

    Xử phạt: Bị cáo Dương Công D 03 (ba) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 29/02/2024

  2. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự;

    Xử phạt: Bị cáo Dương Văn T1 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 29/02/2024

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • + Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì có ký hiệu “QT” được niêm phong bằng dấu của phòng K - công an tỉnh B, có chữ ký của Giám định viên và đại diện cơ quan trưng cầu giám định, bên trong có mẫu vật hoàn lại sau giám định (0,105 gam ma túy, loại Heroine); 01 phong bì ký hiệu “KX” được niêm phong bằng dấu của phòng K - công an tỉnh B và đại diện Cơ quan trưng cầu giám định, bên trong có chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định (01 con dao lam); 05 mảnh giấy màu trắng, có ô ly, trên mặt giấy có nhiều chữ và số.
    • + Truy thu sung công quỹ nhà nước: 200.000 đồng của Dương Công DDương Văn T1, cụ thể: Dương Công D số tiền 100.000 đồng, Dương Văn T1 số tiền 100.000 đồng.
  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết 326/NQ – UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 332, 333 BLTTHS

    Báo cho các bị cáo có mặt biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Trại tạm giam công an tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND thị xã Việt Yên;
  • - THAHS; THADS thị xã Việt Yên ;
  • - Công an thị xã Việt Yên;
  • - bị cáo, người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Đỗ Thị Tuyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 145/2024/HS-ST ngày 09/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 145/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Dương Công D phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger