Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ VĨNH CHÂU

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 145/2024/DS-ST

Ngày: 06 – 9 – 2024

“V/v Tranh chấp hợp

đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lâm Dũ Quang.
  2. Bà Nguyễn Huỳnh Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Hưng, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu tham gia phiên Tòa: Bà Phạm Thị Diệp – Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 165/2024/TLST-DS ngày 03 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 161/2024/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 136/2024/QÐST-DS ngày 23 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP phát triển Th .

Địa chỉ: Số 25 Bis Ng, phường B, Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Lý Ngọc H, sinh năm 1997 (có mặt).

Địa chỉ: Số 179-179A Tr, Phường C, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

* Bị đơn:

- Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1988 (vắng mặt).

- Bà Trần Như Th, sinh năm 1994 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: khóm K, phường Kh, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 23/5/2024 của nguyên đơn và tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện do nguyên đơn ủy quyền bà Lý Ngọc H trình bày:

Ngân hàng TMCP phát triển th (gọi tắt là Ngân hàng) có cho vợ chồng ông Trần Văn Đ và bà Trần Như Th vay tiền theo các Hợp đồng tín dụng sau:

  • Hợp đồng tín dụng số 19370/21/MN/HĐTD ngày 14/5/2021 và giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 19370/21/MN/HĐTD/KUNN 01 ngày 20/5/2021 vay số tiền là 680.000.000₫ (sáu trăm tám mươi triệu đồng); thời hạn vay 12 tháng, lãi suất 7%/năm; mục đích vay là đầu tư trang trại chăn nuôi.
  • Hợp đồng tín dụng hạn mức số 44922/22/MN/HĐTD ngày 30/12/2022 và giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 44922/22/MN/HĐTD/KUNN 01 ngày 12/01/2023 vay số tiền là 220.000.000đ (hai trăm hai mươi triệu đồng); thời hạn vay là 12 tháng; lãi suất là 13,5/%/năm; mục đích vay là bổ sung vốn chăn nuôi.

Để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay, ông Đ – bà Th đã ký kết với Ngân hàng Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 14331/21/MN/HĐBĐ ngày 14/5/2021; Hợp đồng sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 14331/21/MN/HĐBĐ/PL01 ngày 31/5/2022 và Hợp đồng sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 14331/21/MN/HĐBĐ/PL02 ngày 30/12/2022. Tài sản thế chấp là:

  • Quyền sử dụng đất tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Số CX 603986, có diện tích là 6.120,9m²; tại thửa số 572 tờ bản đồ số 07 tọa lạc tại khóm K, phường Kh, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được Ủy ban nhân dân thị xã Vĩnh Châu cấp cho ông Trần Văn Đ vào ngày 22/4/2021.
  • Quyền sử dụng đất tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Số CX 603985, có diện tích là 15.640,6m²; tại thửa số 573 tờ bản đồ số 07 tọa lạc tại khóm K, phường Kh, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được Ủy ban nhân dân thị xã Vĩnh Châu cấp cho ông Trần Văn Đ vào ngày 22/4/2021.

Tính đến ngày 06/9/2024, ông Trần Văn Đ và bà Trần Như Th còn nợ của Ngân hàng tổng cộng là 1.012.288.452đ (một tỷ không trăm mười hai triệu hai trăm tám mươi tám nghìn bốn trăm năm mươi hai đồng), trong đó vốn là 899.999.992₫ (tám trăm chín mươi chín triệu chín trăm chín mươi chín nghìn chín trăm chín mươi hai đồng), lãi trong hạn 77.736.716đ (bảy mươi bảy triệu bảy trăm ba mươi sáu nghìn bảy trăm mười sáu đồng), lãi quá hạn là 34.551.744đ (ba mươi bốn triệu năm trăm năm mươi mốt nghìn bảy trăm bốn mươi bốn đồng).

Ngân hàng đã nhiều lần làm việc với ông Đ – bà Th yêu cầu thanh toán nghĩa vụ trả nợ nêu trên, tuy nhiên ông Đ – bà Th vẫn không thực hiện.

Nay, Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc ông Đ – bà Th phải thanh toán số nợ nêu trên. Đồng thời, ông Đ – bà Th còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo lãi suất của Hợp đồng cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ. Trường hợp ông Đ – bà Th không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp để thu hồi nợ.

Đối với chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Bị đơn ông Trần Văn Đ vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình giải quyết vụ án, ông Đ trình bày: Đúng là vợ chồng ông Đ – bà Th có ký kết với Ngân hàng 02 Hợp đồng tín dụng với số tiền vốn và lãi như Ngân hàng trình bày. Để đảm bảo trả nợ vay, vợ chồng ông Đ có thế chấp cho Ngân hàng 02 quyền sử dụng đất là:

  • Quyền sử dụng đất tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Số CX 603986, có diện tích là 6.120,9m²; tại thửa số 572 tờ bản đồ số 07 tọa lạc tại khóm K, phường Kh, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được Ủy ban nhân dân thị xã Vĩnh Châu cấp cho ông Trần Văn Đ vào ngày 22/4/2021.
  • Quyền sử dụng đất tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Số CX 603985, có diện tích là 15.640,6m²; tại thửa số 573 tờ bản đồ số 07 tọa lạc tại khóm K, phường Kh, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được Ủy ban nhân dân thị xã Vĩnh Châu cấp cho ông Trần Văn Đ vào ngày 22/4/2021.

Vợ chồng ông Trần Văn Đ và bà Trần Như Th còn nợ của Ngân hàng đúng như Ngân hàng trình bày. Tuy nhiên, do quá trình vay, việc chăn nuôi không đạt kết quả nên không có khả năng trả nợ cho Ngân hàng. Nay, ông Đ yêu cầu Ngân hàng gia hạn cho ông mỗi quý trả 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) cho đến khi dứt nợ. Trường hợp, nếu vợ chồng ông vi phạm nghĩa vụ trả nợ thì ông Đ đồng ý cho Ngân hàng phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

Đối với chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, ông Đ yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Đối với bị đơn bà Trần Như Th : Dù được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, tại Thông báo thể hiện đầy đủ những tình tiết, sự kiện, tài liệu, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng nhưng bà Trần Như Th không phản đối, không có văn bản trình bày ý kiến và nguyện vọng của mình. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án có tiến hành triệu tập các đương sự nhưng bà Th cũng vắng mặt không có lý do trong các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tòa án đã thông báo kết quả phiên họp trên cho các đương sự được biết và đưa vụ án ra xét xử. Phiên tòa ngày 23/8/2024, bà Th vẫn vắng mặt và không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa, tiếp tục đưa vụ án ra xét xử theo luật định.

Chứng cứ Tòa án thu thập được là: Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa nêu quan điểm: Qua thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, chứng cứ được thu thập đầy đủ đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các đương sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật, riêng bị đơn Trần Văn Đ và Trần Như Th mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai vẫn vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn Trần Văn Đ và Trần Như Th theo quy định của pháp luật. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Hội đồng xét xử đã xác định đúng quan hệ tranh chấp.

Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn Trần Văn Đ và Trần Như Th có trách nhiệm liên đới thanh toán cho Ngân hàng số tiền vốn và lãi đến ngày 06/9/2024 tổng cộng là 1.012.288.452đ (một tỷ không trăm mười hai triệu hai trăm tám mươi tám nghìn bốn trăm năm mươi hai đồng), trong đó vốn là 899.999.992đ (tám trăm chín mươi chín triệu chín trăm chín mươi chín nghìn chín trăm chín mươi hai đồng), lãi trong hạn 77.736.716đ (bảy mươi bảy triệu bảy trăm ba mươi sáu nghìn bảy trăm mười sáu đồng), lãi quá hạn là 34.551.744đ (ba mươi bốn triệu năm trăm năm mươi mốt nghìn bảy trăm bốn mươi bốn đồng). Đồng thời, ông Đ và bà Th còn phải tiếp tục liên đới trả lãi phát sinh theo lãi suất của Hợp đồng kể từ ngày 07/9/2024 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ. Trường hợp ông Đ – bà Th không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp để thu hồi nợ. Quyết định về nghĩa vụ chịu án phí đối với đương sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Bị đơn Trần Văn Đ và Trần Như Th cư trú tại khóm K, phường Kh, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn Trần Văn Đ và Trần Như Th đã được triệu tập hợp lệ hai lần tham gia phiên tòa, đều vắng mặt không có lý do nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc vắng mặt của mình. Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật và Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt bị đơn Trần Văn Đ và Trần Như Th .

[2] Về nội dung giải quyết:

[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện đòi nợ gốc, tiền lãi trong hạn, tiền lãi quá hạn của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1.1] Xét tính hiệu lực của Hợp đồng tín dụng như sau:

  • Hợp đồng tín dụng số 19370/21/MN/HĐTD ngày 14/5/2021, vợ chồng ông Đ – bà Th đã nhận đủ số tiền vay là 680.000.000₫ (sáu trăm tám mươi triệu đồng) theo giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 19370/21/MN/HĐTD/KUNN 01 ngày 20/5/2021; mục đích vay là đầu tư trang trại chăn nuôi.
  • Hợp đồng tín dụng hạn mức số 44922/22/MN/HĐTD ngày 30/12/2022 vợ chồng ông Đ – bà Th đã nhận đủ số tiền vay là 220.000.000₫ (hai trăm hai mươi triệu đồng) theo giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 44922/22/MN/HĐTD/KUNN 01 ngày 12/01/2023; mục đích vay là bổ sung vốn chăn nuôi.

Thực hiện Hợp đồng tín dụng Ngân hàng đã giải ngân và vợ chồng ông Đ – bà Th đã nhận đủ tiền vay theo các giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ với tổng số tiền vốn gốc là 900.000.000đ (chín trăm triệu đồng). Như vậy Ngân hàng đã thực hiện đúng thỏa thuận trong hợp đồng.

Sau khi vay được tiền, vợ chồng ông Đ – bà Th đã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng như thỏa thuận trong hợp đồng. Như vậy, vợ chồng ông Đ – bà Th đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ và bị xác định là vi phạm hợp đồng. Do đó Ngân hàng khởi kiện yêu cầu phải trả toàn bộ số nợ gốc là có cơ sở chấp nhận.

[2.1.2] Đối với nợ lãi:

  • Hợp đồng tín dụng số 19370/21/MN/HĐTD ngày 14/5/2021, số nợ gốc là 680.000.000₫ (sáu trăm tám mươi triệu đồng); có lãi suất thỏa thuận là 7%/năm.
  • Hợp đồng tín dụng hạn mức số 44922/22/MN/HĐTD ngày 30/12/2022, số nợ gốc là 220.000.000đ (hai trăm hai mươi triệu đồng); có lãi suất thỏa thuận là 13,5/%/năm.

Đây là lãi suất do các bên thỏa thuận và không vi phạm các quy định của pháp luật về lãi suất. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Hợp đồng, vợ chồng ông Đ – bà Th đã vi phạm nghĩa vụ trả lãi và bị xác định là vi phạm hợp đồng. Do đó Ngân hàng khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông Đ – bà Th phải trả nợ lãi trên dư nợ gốc là có cơ sở chấp nhận.

Kể từ ngày 07/9/2024, vợ chồng ông Đ – bà Th còn phải tiếp tục chịu lãi đối với số tiền gốc còn nợ theo lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.

[2.2] Bị đơn ông Trần Văn Đ yêu cầu Ngân hàng gia hạn cho ông mỗi quý trả 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) cho đến khi dứt nợ. Trường hợp, nếu vợ chồng ông vi phạm nghĩa vụ trả nợ thì ông Đ đồng ý cho Ngân hàng phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ nhưng không được nguyên đơn đồng ý nên không có cơ sở chấp nhận ý kiến của ông Đ.

[2.3] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc xử lý tài sản thế chấp theo thỏa thuận Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp tài sản:

Đối với yêu cầu đề nghị xử lý khối tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản, Hội đồng xét xử xét thấy: Để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay, ông Đ – bà Th đã ký kết với Ngân hàng Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 14331/21/MN/HĐBĐ ngày 14/5/2021; Hợp đồng sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 14331/21/MN/HĐBĐ/PL01 ngày 31/5/2022 và Hợp đồng sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 14331/21/MN/HĐBĐ/PL02 ngày 30/12/2022. Tài sản thế chấp là:

  • Quyền sử dụng đất tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Số CX 603986, được Ủy ban nhân dân thị xã Vĩnh Châu cấp cho ông Trần Văn Đ n vào ngày 22/4/2021; diện tích là 6.120,9m²; tại thửa số 572 tờ bản đồ số 07 tọa lạc tại khóm K, phường Kh, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng; có vị trí tứ cận như sau:
    • + Hướng Đông giáp lộ Bê Tông.
    • + Hướng Tây giáp thửa 573.
    • + Hướng Nam giáp thửa 175.
    • + Hướng Bắc giáp thửa 95.

    Trên đất cải tạo thành 02 ao bạc nuôi tôm; 01 chòi giữ tôm ngang 3m x dài 6m, diện tích 18m², mái lợp lá, vách lá.

  • Quyền sử dụng đất tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Số CX 603985, được Ủy ban nhân dân thị xã Vĩnh Châu cấp cho ông Trần Văn Đ vào ngày 22/4/2021; diện tích là 15.640,6m²; tại thửa số 573 tờ bản đồ số 07 tọa lạc tại khóm K, phường Kh, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng; vị trí tứ cận như sau:
    • + Hướng Đông giáp thửa 95 và 572.
    • + Hướng Tây giáp thửa 501.
    • + Hướng Nam giáp thửa 175 và 176.
    • + Hướng Bắc giáp thửa 102.

    Trên đất có 7 ao nuôi tôm; 01 chòi giữ tôm, cột cây Bạch Đằng, mái lợp lá, vách lá.

Khi tham gia ký Hợp đồng thế chấp tài sản thì ông Đ – bà Th tự nguyện, trực tiếp ký kết với Ngân hàng. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Đ thừa nhận phần đất này của vợ chồng ông Đ – bà Th, hiện nay vợ chồng ông Đ – bà Th đang quản lý sử dụng vào việc nuôi tôm. Đồng thời, ông Đ đồng ý cho Ngân hàng được đề nghị cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp để thi hành án nếu vợ chồng ông không thanh toán nợ cho Ngân hàng. Hội đồng xét xử nhận định: Khi ký kết Hợp đồng thế chấp tài sản, đã thực hiện đúng về hình thức, trình tự, thủ tục và tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Theo đó thỏa thuận trong Hợp đồng thế chấp do hai bên ký kết có hiệu lực pháp luật và các bên phải thực hiện quyền, nghĩa vụ theo thỏa thuận của Hợp đồng thế chấp tài sản.

Do vậy, yêu cầu của nguyên đơn đề nghị xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp vợ chồng ông Đ– bà Th vi phạm nghĩa vụ trả nợ là có căn cứ và phù hợp với thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp được Hội đồng xét xử chấp nhận. Theo đó, trường hợp vợ chồng ông Đ – bà Th không thực hiện nghĩa vụ trả nợ và Ngân hàng đề nghị cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp thì bị đơn Trần Văn Đ – Trần Như Th phải bàn giao tài sản theo Hợp đồng thế chấp để Ngân hàng thu hồi nợ.

[3] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, ông Trần Văn Đ và bà Trần Như Th phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 900.000đ (chín trăm nghìn đồng). Do nguyên đơn đã nộp tạm ứng nên ông Đ – bà Th phải liên đới trả lại cho nguyên đơn số tiền nêu trên là 900.000đ (chín trăm nghìn đồng).

[4] Về án phí sơ thẩm: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, ông Đ – bà Th phải liên đới chịu án phí có giá ngạch tương ứng với nghĩa vụ thanh toán quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV.

[5] Toàn bộ quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu là có căn cứ pháp lý và cơ sở thực tiễn như đã nhận định ở trên, Hội đồng xét xử cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đã nêu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 158, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 295, 303, 325, 463, 466 và 470 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 90, 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP phát triển Th đối với bị đơn ông Trần Văn Đ và bà Trần Như Th, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
  2. Buộc bị đơn ông Trần Văn Đ và bà Trần Như Th có trách nhiệm trả cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP phát triển Th dư nợ tính đến ngày 06/9/2024 tổng cộng là 1.012.288.452đ (một tỷ không trăm mười hai triệu hai trăm tám mươi tám nghìn bốn trăm năm mươi hai đồng), trong đó vốn là 899.999.992₫ (tám trăm chín mươi chín triệu chín trăm chín mươi chín nghìn chín trăm chín mươi hai đồng), lãi trong hạn 77.736.716đ (bảy mươi bảy triệu bảy trăm ba mươi sáu nghìn bảy trăm mười sáu đồng), lãi quá hạn là 34.551.744đ (ba mươi bốn triệu năm trăm năm mươi mốt nghìn bảy trăm bốn mươi bốn đồng).

    Đồng thời ông Đ – bà Th còn phải liên đới trả cho Ngân hàng tiền lãi phát sinh tính trên số nợ gốc theo hợp đồng kể từ ngày 07/9/2024 cho đến khi trả xong số nợ gốc.

  3. Trường hợp ông Trần Văn Đ và bà Trần Như Th không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP phát triển Th và Ngân hàng đề nghị cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ thì bị đơn ông Trần Văn Đ và bà Trần Như Th phải bàn giao tài sản để thi hành án theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 14331/21/MN/HĐBĐ ngày 14/5/2021; Hợp đồng sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 14331/21/MN/HĐBĐ/PL01 ngày 31/5/2022 và Hợp đồng sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 14331/21/MN/HĐBĐ/PL02 ngày 30/12/2022. Tài sản thế chấp là:
    • Quyền sử dụng đất tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Số CX 603986, được Ủy ban nhân dân thị xã Vĩnh Châu cấp cho ông Trần Văn Đ vào ngày 22/4/2021; diện tích là 6.120,9m²; tại thửa số 572 tờ bản đồ số 07 tọa lạc tại khóm K, phường Kh, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng; có vị trí tứ cận như sau:
      • + Hướng Đông giáp lộ Bê Tông.
      • + Hướng Tây giáp thửa 573.
      • + Hướng Nam giáp thửa 175.
      • + Hướng Bắc giáp thửa 95.

      Trên đất cải tạo thành 02 ao bạc nuôi tôm; 01 chòi giữ tôm ngang 3m x dài 6m, diện tích 18m², mái lợp lá, vách lá.

    • Quyền sử dụng đất tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Số CX 603985, được Ủy ban nhân dân thị xã Vĩnh Châu cấp cho ông Trần Văn Đ vào ngày 22/4/2021; diện tích là 15.640,6m²; tại thửa số 573 tờ bản đồ số 07 tọa lạc tại khóm K, phường Kh, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng; vị trí tứ cận như sau:
      • + Hướng Đông giáp thửa 95 và 572.
      • + Hướng Tây giáp thửa 501.
      • + Hướng Nam giáp thửa 175 và 176.
      • + Hướng Bắc giáp thửa 102.

      Trên đất có 7 ao nuôi tôm; 01 chòi giữ tôm, cột cây Bạch Đằng, mái lợp lá, vách lá.

  4. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Ông Trần Văn Đ và bà Trần Như Th phải liên đới chịu là 900.000đ (chín trăm nghìn đồng), số tiền này nguyên đơn Ngân hàng TMCP phát triển Th đã nộp xong, ông Trần Văn Đ và bà Trần Như Th có nghĩa vụ liên đới trả lại cho nguyên đơn 900.000đ (chín trăm nghìn đồng).
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Văn Đ và bà Trần Như Th phải liên đới chịu là 42.368.653₫ (bốn mươi hai triệu ba trăm sáu mươi tám nghìn sáu trăm năm mươi ba đồng).

    Ngân hàng TMCP phát triển Th không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 24.260.210đ (hai mươi bốn triệu hai trăm sáu mươi nghìn hai trăm mười đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0004816 ngày 29/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu.

  6. Nguyên đơn có quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án; Riêng bị đơn ông Trần Văn Đ và bà Trần Như Th có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014.

Nơi nhận:

  • - VKSND thị xã Vĩnh Châu;
  • - Chi cục THADS thị xã Vĩnh Châu;
  • - Phòng KTNV&THA TAND tỉnh ST;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

VÕ THỊ HIẾU

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 145/2024/DS-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 145/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger