TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN L BIÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 145/2024/HS-ST
Ngày: 05/7/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN L BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Hồng Quang
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Lâm
- Ông Nguyễn Đình Hùng
- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Tuấn Duy - Thư ký Tòa án nhân dân quận L Biên, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận L Biên, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Dương Bá Thành Luân - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận L Biên, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 159/2024/TLST- HS, ngày 10 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 167/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Thành L, sinh năm: 1992; đăng ký hộ khẩu thường trú: phường Ngọc Thụy, quận L Biên, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thành Đ và bà Nguyễn Thị Thu H; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 06/3/2024, tạm giam từ ngày 12/3/2024 đến nay tại Trại tạm giam số 02 – Công an thành phố Hà Nội. “Có mặt".
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bản thân L là người đã sử dụng ma túy và có nhu cầu mua bán ma túy để hưởng lời. L quen biết Trần Duy L (sinh năm: 1989; HKTT: Tổ 4, Ngọc Thụy, L Biên, Hà Nội), trước đó đã từng trao đổi ma túy với L, L cho L ma túy đá, còn L đưa lại cho L ma túy cần sa để sử dụng. Trưa ngày 06/03/2024, L đang đi làm thì nhận được cuộc gọi hỏi mua ma túy từ Trần Duy L (sinh năm: 1989; HKTT: Tổ 4, Ngọc Thụy, L Biên, Hà Nội) sử dụng số điện thoại 0915.552.xxx. L nhắn lại là “hết rồi”, L có nhắn tin lại là “OK, CO NHAN A NHE”. Khoảng 20 giờ cùng ngày, L đi xe ôm từ chỗ làm ở phường Ngọc Lâm, quận L Biên đến khu vực hồ Hoàn Kiếm, TP Hà Nội mục đích tìm mua ma túy. Đến khoảng 22 giờ, L gặp một người đàn ông không quen biết và mua của người này một túi ni L ma túy đá với giá 500.000 đồng. Mua được ma túy, L cất giấu vào trong túi áo khoác bên trái đang mặc rồi bắt xe ôm quay về vườn hoa Yên Tân, phường Ngọc Thụy, Q. L Biên, TP Hà Nội. Sau đó, L đi bộ về nhà L mục đích để bán ma túy đá. Khi đi đến trước số nhà 28, tổ 4, phường Ngọc Thụy, quận L Biên, TP Hà Nội thì bị lực lượng công an kiểm tra phát hiện, bắt quả tang thu giữ trên người L có 01(một) túi ni L chứa tinh thể màu trắng. Tại chỗ, L khai nhận túi ni L trên chứa ma túy đá mua mục đích bán kiếm lời. Đây là lần đầu tiên L mang ma túy đi bán.
Vật chứng thu giữ của Nguyễn Thành L: 01 (một) túi ni L chứa tinh thể màu trắng; 01 điện thoại di động Redmi Note 7 màu đen đã qua sử dụng.
Tại kết luận giám định số 1911/KL-KTHS, ngày 16/3/2024, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01 gói ni L có khối lượng 0,337 gam là ma túy loại Methamphetamine.
Tại bản Cáo trạng số: 158/CT-VKS - LB ngày 31/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận L Biên truy tố bị cáo Nguyễn Thành L về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành L từ 26 đến 32 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày bắt 06/3/2024.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu của bị cáo; tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động thu của bị cáo L.
Ý kiến của bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an quận L Biên, thành phố Hà Nội; Viện kiểm sát nhân dân quận L Biên, thành phố Hà Nội; Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa: Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi của bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai người làm chứng; biên bản bắt người phạm tội quả tang; kết luận giám định; vật chứng thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận: Hồi 23 giờ, 10 phút, ngày 06/3/2024, tại khu vực tổ 4, phường Ngọc Thụy, quận L Biên, thành phố Hà Nội, Nguyễn Thành L đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,337 gam là ma túy loại Methamphetamine mục đích là mang đi bán kiếm lời nhưng chưa kịp bán thì bị lực lượng công an phát hiện bắt quả tang. Vì vậy, bị cáo phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất trật tự, trị an, an toàn xã hội, sẽ làm phát sinh ra các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác trong đời sống xã hội. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, về tác hại của ma tuý nhưng vẫn tham gia mua bán trái phép nên cần thiết phải xử lý nghiêm minh để giáo dục, cải tạo đối với bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự đây là lần đầu tiên phạm tội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản, nghề nghiệp không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[3]. Về vật chứng:
- - Đối với số ma túy thu của bị cáo là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy;
- - Đối 01 chiếc điện thoại thu của bị cáo liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước;
[4]. Về vấn đề khác:
- - Đối với người đàn ông bán ma túy cho Nguyễn Thành L, do L khai không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người này ở đâu, làm gì nên cơ quan điều tra không có điều kiện để làm rõ;
- - Đối với Nguyễn Duy L, L khai nhận phù hợp với lời khai của Nguyễn Thành L: Ngày 06/3/2024, L sử dụng số thuê bao 0915552363 gọi điện và nhắn tin cho L để hỏi mua ma túy đá. Đây là lần đầu tiên L hỏi mua ma túy của L. Trước đó ngày 05/3/2024, L có trao đổi ma túy cần sa để lấy ma túy đá của L, sau đó đã sử dụng một mình hết. Cơ quan công an đã thông báo Công an phường Ngọc Thụy để quản lý Nguyễn Duy L có hành vi sử dụng trái phép ma túy theo quy định.
[5]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành L 28 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt 06/3/2024.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong có ghi khối lượng 0,309 gam là ma túy loại Methamphetamine (khối lượng ban đầu là 0,337 gam, Phòng PC09 thu mẫu 0,028 gam để giám định);
- - Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động Redmi Note 7 màu đen đã qua sử dụng.
Vật chứng trên thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 06/6/2024 giữa Công an quận L Biên với Chi cục Thi hành án dân sự quận L Biên.
Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hồng Quang |
Bản án số 145/2024/HS-ST ngày 05/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN L BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 145/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN L BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép ma túy
