Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN THANH XUÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 145/2024/HS - ST

Ngày 01 tháng 7 năm 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền
Các Hội thẩm nhân dân Ông Phạm Văn Bình
Bà Chu Thị Tuyết

- Thư ký phiên tòa tại điểm cầu trung tâm: Ông Ngô Xuân Huy – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân.

- Thư ký phiên tòa tại điểm cầu thành phần: Ông Đặng Thanh T- Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Thanh Xuân tham gia phiên tòa tại điểm cầu trung tâm: Bà Dương Thị Thu N - Kiểm sát viên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Thanh Xuân tham gia phiên tòa tại điểm cầu thành phần: Bà Nguyễn Thị Mai H – Kiểm sát viên.

Trong ngày 01 tháng 7 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm: Phòng xét xử trực tuyến - Trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân thành phố Hà Nội và điểm cầu thành phần: Phòng xét xử trực tuyến tại Trại tạm giam số I Công an thành phố H, xét xử sơ thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến theo thủ tục sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 133/2024/HSST ngày 18/6/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 149/2024/QĐXXST-HS ngày 18/6/2024 đối với các bị cáo có lý lịch như sau:

Họ và tên:

1. Đinh Văn Đ, giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1993; Nơi cư trú: P309 A5 tập thể cơ khí Hà Nội, phường T, quận T, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Đinh Văn N1 và con bà Đinh Thị M; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: - Ngày 08/6/2011 Toà án nhân dân quận Thanh Xuân xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án về tội Cưỡng đoạt tài sản (bản án số 75/2011/HSST); - Ngày 16/5/2013 Toà án nhân dân quận Đống Đa xử phạt 30 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý, thời hạn tù tính từ ngày 30/01/2013 (bản án số 248/2013/HSST); Tạm giữ ngày 17/3/2024, Tạm giam ngày 23/3/2024; Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố H. Có mặt.

2. Phạm Lệ H1, Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1993; Nơi cư trú: tổ dân phố A, Cổ Nhuế 1, B, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Con ông Phan Văn K và con bà Nguyễn Thị Ánh H2; có chồng là Nguyễn Hồng K1 và 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ ngày 17/3/2024; tạm giam ngày 23/3/2024; Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố H. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ 10 phút ngày 17/3/2024, tổ công tác thuộc Đại đội 1, Trung đoàn C làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát trên tuyến đường K, T, Hà Nội phát hiện Đinh Văn Đ chở Phạm Lê H3 trên xe máy nhãn hiệu Yamaha Janus BKS: 29D2 - 225.72 tại trước số A K, T, T, Hà Nội có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, Phạm Lệ H1 tự tay lấy ra từ túi quần bên phải đang mặc giao nộp cho tổ công tác 04 túi nilon màu trắng gồm: 02 túi nilon trắng có kích thước khoảng 5x8cm, bên trong mỗi túi chứa thảo mộc khô; 01 túi nilon trắng kích thước khoảng 4x8cm bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 túi nilon trắng kích thước khoảng 4x8cm bên trong chứa 01 viên nén và chất bột màu xanh. H1 và Đ khai nhận là các túi nilon chứa ma tuý cần sa, ma tuý ketamin, ma tuý tổng hợp mang đi để sử dụng. Tổ tuần tra đã tiến hành thu giữ số tang vật trên và đưa H1 và Đ cùng tang vật về trụ sở C1 để làm rõ.

+ Cơ quan Công an tạm giữ tang vật gồm:

  • 01 điện thoại di động Iphone màu vàng, số imeil 353790080204141, lắp sim số 0376418959 của Phạm Lệ H1
  • 02 túi nilon trắng kích thước khoảng 05 x 08cm, bên trong mỗi túi chứa thảo mộc khô;
  • 01 túi nilon trắng kích thước khoảng 04 x 08cm bên trong chứa tinh thể màu trắng;
  • 01 túi nilon trắng kích thước khoảng 04 x 08cm bên trong chứa 01 viên nén và chất bột màu xanh
  • 01 điện thoại di động Iphone màu trắng, số imeil 359871977299156, lắp sim số 0522891070 của Đinh Văn Đ.
  • 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Janus, BKS 29D2 – 225.72

+ Tại Bản kết luận giám định số 2148/KL-KTHS ngày 26/3/2024 của Phòng K2 - CA thành phố H kết luận:

  • Thảo mộc khô bên trong 02 túi nilon đều là cần sa, tổng khối lượng 2,574 gam
  • Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Ketamine có khối lượng 2,325 gam.
  • 01 viên nén màu xanh và bột màu xanh bên trong 01 túi nilon đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng 0,274 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Đinh Văn Đ và Phạm Lệ H1 khai nhận: Khoảng 14 giờ ngày 16/3/2024, Đ liên lạc đến số điện thoại 0367.387.xxx của người đàn ông tên Ngọc qua phần mềm Nicegram nhờ mua hộ 02 viên kẹo, 01 chỉ Ketamin và ma túy cần sa với giá 4.000.000 đồng và hẹn nhau đến cổng tập thể cơ khí, T, T, Hà Nội để lấy ma tuý. Khoảng 14 giờ 50 phút cùng ngày, Đ gặp và được N2 đưa 04 túi nilon màu trắng chứa ma túy như nêu trên (trong đó có 02 túi chứa thảo mộc khô là Cần sa; 01 túi là ma túy Ketamine; 01 túi ma túy kẹo là MDMA). Sau đó Đ mang số ma tuý trên về nhà tại địa chỉ P309 nhà A5 Tập thể cơ khí Hà Nội, ngõ A N, T, T, Hà Nội sử dụng một ít ma túy Cần sa rồi cất toàn bộ số ma túy còn lại vào túi quần và đi xe ôm lên quán Bar tại B X, Q, T, Hà Nội là nơi Đ làm việc cùng H1. Đến 22 giờ 30 phút cùng ngày, Đ rủ H1 đi tìm nhà nghỉ để cùng nhau sử dụng ma túy, H1 đồng ý. Khi cả hai đi đến khu vực trước khu đô thị R, T, T, Hà Nội, Đ đưa cho H1 04 túi ma tuý cất giữ. Khi 2 người đi đến trước khu vực số A phố K, T, Hà Nội thì bị phát hiện bắt giữ.

Đối với người bán ma túy tên N2, Đ khai không biết nhân thân, địa chỉ của N2, chỉ biết N2 sử dụng số điện thoại 0367.387.xxx. Quá trình xác minh chủ thuê bao là chị Vũ Thị H4 (sinh năm 1975, nơi cư trú: Số 1 ngõ A phố K, K, T, Hà Nội), chị H4 khai từ trước đến nay không đứng tên đăng ký thông tin và sử dụng số điện thoại trên và không quen biết Đinh Văn Đ. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra không đủ căn cứ điều tra làm rõ xử lý N2.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu nhãn hiệu Yamaha Janus BKS: 29D2 - 225.72 thu giữ của Đ mang tên chị Đinh Hồng G (SN 1994, HKTT: Số B ngõ C phố H, H, Hà Nội). Năm 2021 chị G bán chiếc xe trên cho ông Lê Ngọc T1 (SN 1965; Nơi ở hiện tại: 25 X, Q, T, Hà Nội). Ông T1 cho Đ mượn chiếc xe trên để đi lại, việc Đ điều khiển chiếc xe trên liên quan đến ma túy ông T1 không biết. Xét không liên quan đến vụ án nên Cơ quan CSĐT – Công an quận T trao trả chiếc xe máy trên cho ông T1

Đối với 01 điện thoại di động Iphone màu vàng, lắp sim số 0376418959; 01 điện thoại di động Iphone màu trắng, lắp sim số 0522891070 thu giữ của H1 và Đ, Cơ quan điều tra đề nghị chuyển Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Xuân giải quyết theo quy định.

Đinh Văn Đ và Phạm Lệ H1 có hành vi Tàng trữ 03 chất ma tuý quy đổi theo Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/2/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma tuý tại một số điều của Bộ luật hình sự 2015: 2,574 gam cần sa so với mức tối thiểu của điểm h khoản 2 Điều 249 BLHS là 5,48%; 2,325 gam Ketamine so với mức tối thiểu của điểm 1 khoản 2 Điều 249 BLHS là 11,625%; 0,274 gam MDMA quy đổi theo điểm g khoản 2 Điều 249 BLHS là 0,2574%. Tổng cộng 03 chất ma tuý là 17,3624% dưới 100% nên hành vi của Đ và H1 bị truy tố về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự

Cáo trạng số 128/CT-VKS ngày 12/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân đã truy tố bị cáo Đinh Văn Đ và Phạm Lệ H1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo thừa nhận việc bị truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo Đ và bị cáo H1 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm có cơ hội trở về với gia đình và xã hội.

Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng đã nêu, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Đinh Văn Đ từ 22 tháng đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 17/3/2024; Xử phạt bị cáo Phạm Lệ H1 từ 18 tháng đến 20 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 17/3/2024. Các bị cáo không có việc làm thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:

  • Tịch thu tiêu hủy tang vật vụ án gồm: 01 phong bì niêm phong dán kín, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hoàng H5, cán bộ công an Hoàng Thanh P, đối tượng Đinh Văn Đ và Phạm Lệ H1, người chứng kiến Trần Tiến Đ1 và đóng dấu của Công an phường T bên trong có 02 túi nilong màu trắng bên trong chứa thảo mộc khô, khối lượng 1,749 gam ma tuý cần sa (khối lượng ban đầu 2,574 gam, thu mẫu giám định 0,825 gam); 01 túi nilon màu trắng chứa tinh thể màu trắng có khối lượng 1,966 gam là ma tuý loại Ketamin (khối lượng ban đầu 2,325 gam, thu mẫu giám định 0,359 gam); 01 túi nilon màu trắng chứa 01 viên nén màu xanh và chất bột màu xanh có tổng trọng lượng là 0,202 gam là ma tuý MDMA (khối lượng ban đầu 0,274 gam, thu mẫu giám định 0,072 gam) cần tịch thu tiêu huỷ.
  • 01 điện thoại di động Iphone màu vàng, số imeil 353790080204141, lắp sim số 0376418959 thu của bị cáo H1 cần trả lại bị cáo H1.
  • 01 điện thoại di động Iphone màu trắng, số imeil 359871977299156, thu của bị cáo Đ cần tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước, bên trong lắp sim số 0522891070 cần tịch thu tiêu huỷ.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng.

Các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận T, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo nhận tội, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật, các tài liệu đã được thu thập trong hồ sơ là hợp pháp.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa các bị cáo công nhận nội dung bản cáo trạng đã nêu là đúng. Qua xét hỏi và tranh luận các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng, phù hợp với tang vật, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 01 giờ 10 phút ngày 17/3/2024 Đinh Văn Đ và Phạm Lệ H1 có hành vi cất giấu trái phép 2.574 gam cần sa; 2.325 gam Ketamin và 0,274 gam MDMA nhằm mục đích để sử dụng thì bị Cơ quan công an phát hiện bắt giữ tại trước số A K, phường T, quận T, Hà Nội. Hành vi của bị cáo Đinh Văn Đ và Phạm Lệ H1 đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân truy tố bị cáo để xét xử theo tội danh đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội: Xét thấy, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội. Bản thân hai bị cáo là người trưởng thành, nhận thức rõ tác hại nhiều mặt của ma túy đến sức khỏe và đời sống của con người, các bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và đảm bảo phòng ngừa chung cho xã hội.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự bàn bạc phân công vai trò, bị cáo Đ là người rủ bị cáo H1 sử dụng ma tuý, đồng thời số ma tuý thu giữ do hai bị cáo tàng trữ để sử dụng do bị cáo Đ mua, bị cáo Đ có nhân thân xấu đã hai lần bị xử lý hình sự nhưng không lấy đó làm bài học tiếp tục lao vào con đường phạm tội nên mức hình phạt áp dụng với bị cáo Đ nặng hơn bị cáo H1.

[4].Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Tình tiết giảm nhẹ: Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét tình tiết tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo Đ và bị cáo H1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bố bị cáo Đ được tặng thưởng H6 Huy chương kháng chiến, bị cáo H1 có nhân thân tốt chưa tiền án tiền sự, để giảm một phần hình phạt cho các bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Tình tiết tăng nặng: các bị cáo Đ và H1 không có tình tiết tăng nặng.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có thu nhập ổn định nên miễn áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo Đ và bị cáo H1 theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • 01 phong bì niêm phong dán kín, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hoàng H5, cán bộ công an Hoàng Thanh P, đối tượng Đinh Văn Đ và Phạm Lệ H1, người chứng kiến Trần Tiến Đ1 và đóng dấu của Công an phường T bên trong có 02 túi nilong màu trắng bên trong chứa thảo mộc khô, khối lượng 1,749 gam ma tuý cần sa (khối lượng ban đầu 2,574 gam, thu mẫu giám định 0,825 gam); 01 túi nilon màu trắng chứa tinh thể màu trắng có khối lượng 1,966 gam là ma tuý loại Ketamin (khối lượng ban đầu 2,325 gam, thu mẫu giám định 0,359 gam); 01 túi nilon màu trắng chứa 01 viên nén màu xanh và chất bột màu xanh có tổng trọng lượng là 0,202 gam là ma tuý MDMA (khối lượng ban đầu 0,274 gam, thu mẫu giám định 0,072 gam) cần tịch thu tiêu huỷ.
  • 01 điện thoại di động Iphone màu vàng, số imeil 353790080204141, lắp sim số 0376418959 thu của bị cáo H1, bị cáo dùng để liên lạc cá nhân không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại bị cáo H1.
  • 01 điện thoại di động Iphone màu trắng, số imeil 359871977299156, thu của bị cáo Đ cần tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước. Bên trong lắp sim số 0522891070 cần tịch thu tiêu huỷ.

[7]. Về án phí: Bị cáo Đ và bị cáo H1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[8].Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đ và bị cáo H1 có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Chị H7 có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Đinh Văn Đ và Phạm Lệ H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng:

  • Điểm i Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đinh Văn Đ.
  • Điểm i Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Lệ H1.
  • Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự ; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Áp dụng: Điều 136, Điều 331, Điều 333, Điều 336, Điều 337 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.
  • Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, danh mục án phí kèm theo.

Xử phạt: Bị cáo Đinh Văn Đ 22 (hai mươi hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/3/2024.

Bị cáo Phạm Lệ H1 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/3/2024.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

  • Tịch thu tiêu hủy tang vật vụ án gồm: - 01 phong bì niêm phong dán kín, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hoàng H5, cán bộ công an Hoàng Thanh P, đối tượng Đinh Văn Đ và Phạm Lệ H1, người chứng kiến Trần Tiến Đ1 và đóng dấu của Công an phường T vào mép dán niêm phong, bên trong có 02 túi nilong màu trắng bên trong chứa thảo mộc khô, khối lượng 1,749 gam ma tuý cần sa (khối lượng ban đầu 2,574 gam, thu mẫu giám định 0,825 gam); 01 túi nilon màu trắng chứa tinh thể màu trắng có khối lượng 1,966 gam là ma tuý loại Ketamin (khối lượng ban đầu 2,325 gam, thu mẫu giám định 0,359 gam); 01 túi nilon màu trắng chứa 01 viên nén màu xanh và chất bột màu xanh có tổng trọng lượng là 0,202 gam là ma tuý MDMA (khối lượng ban đầu 0,274 gam, thu mẫu giám định 0,072 gam).
  • Trả lại bị cáo H1: 01 điện thoại di động Iphone màu vàng, số imeil 353790080204141, lắp sim số 0376418959.
  • Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone màu trắng, số imeil 359871977299156. Bên trong lắp sim số 0522891070 cần tịch thu tiêu huỷ.

Hiện các vật chứng đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/7/2024.

Án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo Đinh Văn Đ và Phạm Lệ H1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm bị cáo Đinh Văn Đ và Phạm Lệ H1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND quận Thanh Xuân;
  • - Công an quận Thanh Xuân;
  • - Chi cục THADS quận Thanh Xuân;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 145/2024/HS - ST ngày 01/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 145/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đinh Văn Đức và Phạm Thị Lệ Hương phạm Tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger