Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 145/2025/HS-PT

Ngày 30 - 9 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Hồng Thể

Các Thẩm phán: ông Nguyễn Quang Trung và ông Nguyễn Đức Anh

Thư ký phiên tòa: ông Đinh Xuân Giáp – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Duy Việt - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 56/2025/TLPT-HS ngày 27 tháng 5 năm 2025 do có kháng cáo của Ngân hàng TMCP B1 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 58/2025/HS-ST ngày 27 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có kháng cáo: Ngân hàng TMCP B1; Địa chỉ: số E, L, Phường G Quận T, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: ông Phạm Ngọc T - Chức vụ: Trưởng bộ phận thu hồi nợ hiện trường và anh Lê Đình T1 - Chức vụ: chuyên viên thu hồi nợ hiện trường, Phòng THNHT, TTQL&THN. Theo Giấy ủy quyền số 1767/25/BVBank/GUQ-QL&THN ngày 17/9/2-25 của Ngân hàng TMCP B1. Anh Tú có mặt. Ông T vắng mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo: anh Lý Quang T2 – sinh năm 1979; Địa chỉ: C đường Đ, phường A, Quận F thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

Ngoài ra vụ án còn có người tham gia tố tụng khác không có kháng cáo, không có kháng nghị và không có liên quan đến kháng cáo nên Toà án không triệu tập đến tham gia phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Cuối tháng 02 năm 2024, có một người trong hội nhóm mua bán xe ô tô cũ đăng bán chiếc xe ô tô nhãn hiệu CHEVROLET SPARK màu ghi, BKS 93A - 07694 đời 2016, số sàn, giá là 120.000.000 đồng. Nguyễn Bá B là thành viên của hội nhóm, đã cùng với anh trai là Nguyễn Bá N đi từ thành phố T vào thành phố H để hỏi mua chiếc xe ô tô này. Nguyễn Bá B đã đồng ý mua và trả trước 60.000.000 đồng, còn 60.000.000 đồng còn lại thì bao giờ có giấy tờ sẽ liên lạc với B để đưa giấy tờ và nhận số tiền này.

Sau khi mua xe, Nguyễn Bá B đăng bán chiếc xe biển kiểm soát 93A-076.94 lên mạng xã hội. Do có nhu cầu mua lại xe ô tô cũ, để làm phương tiện đi lại và cho thuê, Ma Khánh T3 liên lạc với Nguyễn Bá B qua Facebook trao đổi và thống nhất mua lại chiếc xe này với giá 62.500.000 đồng. T3 đã đưa tiền để nhận xe ô tô và bản phô tô y sao đăng ký xe (do chủ xe chưa đưa đưa giấy tờ gốc cho B). Khi mua bán hai bên không có giấy tờ mua bán hay hợp đồng gì. Sau khi mua xe, Ma Khánh T3 đưa xe về thành phố Hà Nội gắn thiết bị định vị lên xe, sau đó sử dụng xe để làm phương tiện đi lại và cho thuê.

Ngày 05/3/2024, Nguyễn Bá B mua 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Chevrolet Trax, màu trắng, đã qua sử dụng với giá 139.000.000 đồng. Sau đó, Nguyễn Bá B đăng bán chiếc xe này lên mạng xã hội thì Ma Khánh T3 liên lạc với B qua Facebook hỏi mua chiếc xe. Ngày 06/03/2024, Ma Khánh T3 đến thành phố T, tỉnh Thanh Hóa gặp Nguyễn Bá B, B đã bán cho Ma K Trường chiếc xe này số tiền 145.000.000 đồng. Sau khi mua xe, Ma Khánh T3 đưa xe về thành phố Hà Nội sử dụng xe để làm phương tiện đi lại và cho thuê.

Khoảng đầu tháng 5/2024, Nguyễn Bá B thấy trên trang mạng xã hội có người đăng bán xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA Rush, màu trắng, biển kiểm soát 73A - 11550, Nguyễn Bá B liên lạc với người bán xe ô tô là Trần Tuấn A. Nguyễn Bá B và Trần Tuấn A hẹn gặp nhau ở khu vực gần thành phố H để mua bán xe. Khi gặp nhau, Trần Tuấn A nói với Nguyễn Bá B xe ô tô biển kiểm soát 73A - 11550 là xe của ông Nguyễn Quang V sinh năm 1959, HKTT tại khu phố B, phường B, thị xã B, tỉnh Quảng Bình thế chấp vay số tiền 100.000.000 đồng cho Tuấn A nhưng đến hạn không thanh toán. Hai bên thống nhất với nhau về việc hứa mua bán xe cho nhau, Nguyễn Bá B giao số tiền 100.000.000 đồng cho Trần Tuấn A và nhận xe sử dụng, khi nào đầy đủ giấy tờ thì Trần Tuấn A sẽ liên lạc với Nguyễn Bá B để thống nhất giá cả mua bán xe.

Khoảng ngày 05/5/2024, vì Ma Khánh T3 có nhu cầu đổi xe số tự động loại 7 chỗ ngồi, nên T3 liên lạc với Nguyễn Bá B qua mạng xã hội để đổi xe ô tô biển kiểm soát: 93A-076.94 và xe ô tô CHEVROLET Trax màu trắng mà Ma Khánh T3 mua của Nguyễn Bá B trước đây để lấy chiếc xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA Rush, màu trắng, biển kiểm soát 73A - 11550, Nguyễn Bá B trả thêm cho Ma Khánh Trường 30.000.000 đồng. Việc mua bán xe không có giấy tờ gì mà chỉ thỏa thuận bằng miệng. Khi giao xe ô tô cho Nguyễn Bá B, Ma Khánh T3 để lại thiết bị định vị tại vị trí bên dưới táp lô xe phía bên lái trên chiếc xe ô tô nhãn hiệu Chevrolet Spark, màu ghi, biển kiểm soát 93A - 07694 và giữ lại một chiếc chìa khóa dự phòng của chiếc xe này.

Khoảng ngày 10 tháng 05 năm 2024 Nguyễn Bá B đăng bán chiếc xe CHEVROLET SPARK, biển kiểm soát 93A - 07694 trên mạng xã hội thì Lê Văn T4, sinh năm 1993, trú tại xóm G, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An thống nhất với giá mua bán chiếc xe này là 116.000.000 đồng, T4 sẽ trả trước số tiền 56.000.000 đồng, số tiền 60.000.000 đồng còn lại thì Lê Văn T4 sẽ thanh toán cho Nguyễn Bá B khi có đầy đủ giấy tờ xe. Lê Văn T4 đồng ý, thanh toán số tiền 56.000.000 đồng cho Nguyễn Bá B. Nguyễn Bá B giao 01 giấy giao xe đối với xe ô tô biển kiểm soát 93A - 07694 (giấy giao xe không ghi tên người nhận xe) lập ngày 11/5/2024 cho Lê Văn T4. Sau khi mua chiếc xe ô tô này, Lê Văn T4 mang về nhà sử dụng.

Ngày 21/6/2024, Ma Khánh T3 kiểm tra ứng dụng theo dõi định vị trên điện thoại của chiếc xe ô tô nhãn hiệu CHEVROLET SPARK, biển kiểm soát 93A - 07694 thấy vị trí chiếc xe ô tô đang ở xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Ma Khánh T3 nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe này để bán cho người khác. Ngày 07 tháng 7 năm 2024, Ma Khánh T3 điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 73A - 11550 chở Phạm Thu H(là bạn của T3) theo vị trí định vị đi đến xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Khi thấy xe ô tô biển kiểm soát 93A - 07694 đang đỗ bên đường, Ma Khánh T3 điều khiển xe ô tô đi vượt qua vị trí xe ô tô 93A-07694 khoảng 500 mét, Ma Khánh T3 nói với Phạm Thu H “em qua lái cho anh đi đến quán xôi em vào mua xôi”. Phạm Thu H điều khiển xe ô tô chở Ma Khánh T3 đến trước cửa quán xôi của gia đình Lê Văn T4, Ma Khánh T3 nói với Phạm Thu H “em để anh xuống ở đây”, “em vào mua xôi đi, mua xong thì lái xe ra khu vực thị trấn C chờ anh”. Phạm Thu H điều khiển xe lại khu vực trước quán xôi, cạnh bờ sông đi vào quán mua xôi. Mua xôi xong, Phạm Thu H điều khiển ô tô biển kiểm soát 73A - 11550 rời đi. Ma Khánh T3 xuống xe ô tô, cúi người đi vòng ra phía sau xe ô tô biển kiểm soát 93A - 07694, sang cửa phụ của xe, dùng chìa khóa dự phòng mang theo từ trước mở cửa phụ của xe ô tô. Sau khi mở cửa phụ, M T3 lên xe đi sang ghế lái nổ máy lấy trộm chiếc xe điều khiển đi về hướng quốc lộ A về thành phố Hà Nội. Trên đường đi, Ma Khánh T3 gọi cho Phạm Thu H qua Facebook hẹn gặp Phạm Thu H tại thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An cùng đi về thành phố Hà Nội. Khi về đến Hà Nội, Ma Khánh T3 đưa xe ô tô biển kiểm soát 93A - 07694 về cất giấu tại khu C, đất dịch vụ Y, phường Y, quận H, thành phố Hà Nội.

Ngày 18/7/2024, Lê Văn T4 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y trình báo sự việc bị mất trộm xe ô tô biển kiểm soát 93A - 07694 vào ngày 07/7/2024 tại xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An.

Sau khi tiếp nhận nguồn tin, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã triệu tập, làm việc đối với những người liên quan. Tại cơ quan điều tra, Ma Khánh T3 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Tại kết luận định giá tài sản số 26/KL-HĐĐGTS ngày 31/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y xác định tại thời điểm ngày 07/7/2024 xe ô tô nhãn hiệu Chevrolet Spark, màu ghi, biển kiểm soát 93A - 07694 trị giá 120.000.000đ(một trăm hai mươi triệu đồng).

Quá trình điều tra xác định chiếc xe ô tô nhãn hiệu CHEVROLET SPARK, Màu ghi, Biển kiểm soát 93A-076.94 có nguồn gốc như sau:

Năm 2016, ông Vũ Dương D là Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty CP Đ hoạt động chính trong lĩnh vực cho thuê xe ô tô tự lái. Ông D mua 01 xe ô tô nhãn hiệu CHEVROLET SPARK, Màu ghi, Biển kiểm soát 93A-076.94, đăng ký xe mang tên Vũ Dương D. Ngày 09/11/2016, ông Vũ Dương D thế chấp xe ô tô Biển kiểm soát 93A-076.94 cùng với 29 xe ô tô khác (tổng 30 xe ô tô) tại Ngân hàng TMCP B1 (BV B2) - Trụ sở chính, địa chỉ tại Tòa nhà H, số D, đường N, phường E, quận C, thành phố Hồ Chí Minh để vay số tiền 9.408.000.000 đồng. Ngân hàng TMCP B1 đã giữ lại Chứng nhận đăng ký xe ô tô Biển kiểm soát 93A-076.94 (bản gốc), giao xe ô tô Biển kiểm soát 93A-076.94 và bản sao Giấy Chứng nhận đăng ký xe ô tô cho ông Vũ Dương D quản lý và sử dụng. Ông Vũ Dương D đã ủy quyền lại cho ông Hà Đức P là Giám đốc công ty CP Đ - đại diện pháp luật được kinh doanh cho thuê chiếc xe ô tô Biển kiểm soát 93A-076.94. Từ tháng 01/2018 (thời điểm khách hàng bị quá hạn), ông Vũ Dương D không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng B2. Ngày 29/8/2019, ông Hà Đức P – Giám đốc – Đại diện theo pháp luật của Công ty CP Đ và Lý Quang T2, sinh năm 1979, có nơi thường trú tại E H, Phường A, Quận F, TP ., (hiện nay có hộ khẩu thường trú tại C Đ, phường A, quận F, thành phố Hồ Chí Minh) lập hợp đồng hứa mua - hứa bán số 29082019/HĐHMHB đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu CHEVROLET SPARK, Biển kiểm soát 93A-076.94 với thỏa thuận giá hứa mua bán là 250.000.000 đồng. Phương thức thanh toán: Trả góp trong 36 tháng, mỗi tháng góp 8.000.000 đồng, thời gian trả bắt đầu từ ngày 01/10/2019 đến ngày 01/9/2022. Lý Quang T2 thanh toán trước số tiền 40.000.000 đồng(có phiếu thu số PT29082019 của Công ty CP Đ). Sau khi Lý Quang T2 hoàn thành nghĩa vụ của hợp đồng thì chiếc xe thuộc sỡ hữu của Lý Quang T2. Tháng 12/2020, Lý Quang T2 sử dụng xe ô tô BKS: 93A-07.94 làm phương tiện đi lại trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội nên xe ô tô BKS: 93A-07.94 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L, tỉnh An Giang tạm giữ, nhập kho vật chứng. Tại bản án số 77/2021/HS-PT ngày 22/12/2021 của TAND tỉnh An Giang tuyên trả xe ô tô Biển kiểm soát 93A-076.94 cho Lý Quang T2. Ngày 12/01/2022, Chi cục thi hành án dân sự TP. Long Xuyên, tỉnh An Giang đã trả lại 01 xe ô tô Biển kiểm soát 93A-076.94 cho Lý Quang T2. Do xe lâu ngày không sử dụng nên xe ô tô đã bị hư hỏng, Lý Quang T2 mang xe ô tô đi sửa chữa. Lý Quang T2 khai sau khi sửa xe xong, T2 để xe tại chân cầu T, phường M, TP ., tỉnh An Giang thì bị mất trộm.

Bản án hình sự sơ thẩm số 58/2025/HS-ST ngày 27 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An đã quyết định:

  1. Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Khoản 1, 2 Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt: Bị cáo Ma Khánh T3 27 (Hai mươi bảy) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng được hưởng án treo. Thời hạn thử thách 54 (Năm mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 27/05/2025).
  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015; điểm a, b khoản 2, khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 trả lại cho anh Lý Quang T2 01 xe ô tô nhãn hiệu CHEVROLET SPARK, Màu ghi, Biển kiểm soát 93A-076.94, số máy 0986HLSX0181, số khung, 48DJGH938503, đã qua sử dụng;

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án và xử lý các vật chứng khác, án phí, tuyên quyền kháng cáo.

Ngày 30/6/2025, Ngân hàng TMCP B1 làm đơn kháng cáo với nội dung: đề nghị tòa án cấp phúc thẩm sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 58/2025/HSST ngày 27/05/2025 của Tòa án nhân dân huyện yên T5, tỉnh Nghệ An theo hướng: Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng B2 về việc yêu cầu trả lại chiếc xe ô tô nhãn hiệu CHEVROLET SPARK màu ghi, Biển kiểm soát 93A 07694, số máy 0986HLSX0181, số khung 48DJGH938503 để Ngân hàng B2 xử lý thu hồi nợ theo quy định.

Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP B1 giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, sửa phần xử lý vật chứng tại Bản án sơ thẩm theo hướng: giao chiếc xe ô tô nhãn hiệu CHEVROLET SPARK màu ghi, Biển kiểm soát 93A 07694, số máy 0986HLSX0181, số khung 48DJGH938503 cho Ngân hàng B2 xử lý thu hồi nợ theo quy định. Ngân hàng không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1]. Tính hợp pháp của đơn kháng cáo: ngày 17/6/2025, Ngân hàng TMCP B1 (vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm) nhận được Bản án sơ thẩm. Ngày 30/6/2025, Tòa án nhân dân huyện Yên Thành nhận được Đơn kháng cáo của Ngân hàng TMCP B1 (Đơn đề ngày 26/6/2025). Như vậy, Đơn kháng cáo của người đại diện của Ngân hàng TMCP B1 được nộp trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2]. Xét kháng cáo của Ngân hàng TMCP B1 (viết tắt là VCCB) thấy rằng:

[2.1]. Tại Hợp đồng tín dụng số 0455/06816/XE.03.HĐTDTDH ngày 09/11/2016 và Hợp đồng thế chấp số 0370/06816/02A.HĐTCDS ngày 09/11/2016 ký kết giữa VCCB và ông Vũ Dương D, bà Lâm Thị Xuân H1 thì ông D và bà H1 đã thế chấp cho VCCB 30 xe ô tô để đảm bảo cho khoản vay tín dụng 9.408.000.000 đồng, trong số 30 xe ô tô có chiếc xe ô tô nhãn hiệu CHEVROLET SPARK màu ghi, Biển kiểm soát 93A 07694, số máy 0986HLSX0181, số khung 48DJGH938503 đăng ký chủ xe Vũ Dương D. Giao dịch bảo đảm (thế chấp xe ô tô) giao kết ngày 09/11/2016 giữa VCCB – ông Vũ Dương D, bà Lâm Thị Xuân H1 tuân thủ theo đúng quy định tại tiểu mục III, mục 5 Chương XVII (Thế chấp tài sản) của Bộ luật Dân sự năm 2005; Nghị định 163/2006/NĐ-CP, Nghị định 11/2012/NĐ-CP nên có hiệu lực pháp luật theo quy định tại Điều 122 của Bộ luật Dân sự 2005.

Quá trình điều tra, VCCB và ông D đều thừa nhận về khoản nợ tín dụng cũng như việc thế chấp tài sản nêu trên và cho đến nay, ông D vẫn chưa thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ tín dụng cho VCCB. Ngày 06/01/2020, Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã thụ lý vụ án dân sự “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” số 14/2020/TLST-DS ngày 06/01/2020 giữa VCCB và ông Vũ Dương D – bà Lâm Thị Xuân H1; đến ngày 23/9/2025 đã ban hành Bản án số 1161/2025/DS-ST giải quyết tranh chấp nêu trên, trong đó có xác định xe ô tô Chevrolet Spark BKS 93A – 07694 là một trong các tài sản thế chấp (hình thành từ vốn vay) đảm bảo thi hành án cho khoản nợ của ông D bà H1 tại VCCB; VCCB được quyền truy tìm và yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền thu hồi, phát mãi những tài sản trên để thi hành án. Như vậy, căn cứ vào thỏa thuận tại điểm d khoản 1 và điểm b khoản 3 Điều 6 của Hợp đồng thế chấp đã ký kết “... VCCB nhận được thông tin Bên thế chấp có liên quan đến các tranh chấp dân sự có khả năng ảnh hưởng đến TSBĐ hoặc vi phạm pháp luật có khả năng phải chịu trách nhiệm hình sự thì VCCB được toàn quyền (nhưng không phải nghĩa vụ) xử lý TSBĐ mà không phụ thuộc vào ý chí của Bên thế chấp và không phụ thuộc vào khoản nợ đã đến hạn hay chưa”; “các phương thức xử lý TSBĐ để thu hồi nợ: khi xử lý TSBĐ Bên thế chấp đồng ý vô điều kiện và không hủy ngang cho VCCB được quyền lựa chọn một hoặc một số các phương thức xử lý như sau: ... cho VCCB nhận chính TSBĐ để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ nếu VCCB yêu cầu ...” thì việc VCCB yêu cầu Tòa án giao chiếc xe ô tô nhãn hiệu CHEVROLET SPARK màu ghi, Biển kiểm soát 93A – 07694, số máy 0986HLSX0181, số khung 48DJGH938503 để xử lý thu hồi nợ là phù hợp với thỏa thuận dân sự và đúng pháp luật.

[2.3]. Anh Lý Quang T2 yêu cầu được trả lại chiếc xe ô tô Biển kiểm soát 93A – 07694 và được Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận. Xét:

Căn cứ vào trình bày của anh T2, ông Vũ Dương D, ông Hà Đức P thì vào ngày 29/8/2019, anh T2 đã mua chiếc xe ô tô Biển kiểm soát 93A – 07694 với giá 250.000.000 đồng từ Công ty CP Đ theo hình thức mua trả chậm trả dần (lập thành hợp đồng hứa mua hứa bán số 29082019/HĐHMHB) với khoản trả tiền đầu tiên là 40.000.000 đồng, thời hạn trả 36 tháng (thời điểm cuối cùng là ngày 01/9/2022). Thời điểm mua tài sản, anh T2 được bên bán thông báo việc xe ô tô đang là tài sản đảm bảo nghĩa vụ trả nợ tại Ngân hàng nhưng vẫn chấp nhận và để thuận lợi cho việc hành nghề grab T6 của anh T2, các bên đã lập thêm Hợp đồng cho thuê xe số 29082019/HĐCTX/TNB-LQT. Quá trình thực hiện hợp đồng, anh T2 đã trả thêm một số tiền nhưng đến nay vẫn chưa trả hết nên theo quy định tại Điều 461 của Bộ luật Dân sự quy định về mua trả chậm trả dần thì anh T2 chưa được xác lập quyền chủ sở hữu của tài sản. Nên, Tòa án cấp sơ thẩm nhận định anh T2 là chủ tài sản là sai.

Như vậy, việc anh T2 và Công ty CP Đ (do ông Hà Đức P đại diện dưới sự cho phép của ông D) xác lập giao dịch mua bán xe ô tô (tài sản đảm bảo) mà không được sự chấp nhận của bên nhận thế chấp (VCCB) là vi phạm thỏa thuận tại Hợp đồng thế chấp số 0370/06816/02A.HĐTCDS ngày 09/11/2016 ký kết giữa VCCB và ông Vũ Dương D, bà Lâm Thị Xuân H1 và quy định tại Điều 123, Điều 320 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên bị vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật. Anh T2 có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết hậu quả do hợp đồng vô hiệu theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, cũng theo quy định tại khoản 1 Điều 7 của Nghị định 21/2021/NĐ-CP về Quyền truy đòi tài sản bảo đảm thì “1. Quyền của bên nhận bảo đảm đối với tài sản bảo đảm trong biện pháp bảo đảm đã phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba không thay đổi hoặc không chấm dứt trong trường hợp tài sản bảo đảm bị chuyển giao cho người khác do mua bán, tặng cho, trao đổi, chuyển nhượng, chuyển giao khác về quyền sở hữu; chiếm hữu, sử dụng hoặc được lợi về tài sản bảo đảm không có căn cứ pháp luật và không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.” thì pháp luật công nhận cho VCCB có quyền truy đòi tài sản đảm bảo trong trường hợp ông D (bên thế chấp) đã bán cho người khác (anh T2).

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của VCCB, sửa bản án sơ thẩm đối với phần xử lý vật chứng, giao chiếc xe ô tô Biển kiểm soát 93A – 07694 là tài sản đảm bảo cho VCCB để xử lý thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

[4]. Án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo của Ngân hàng TMCP B1 được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng TMCP B1; sửa 01 phần quyết định xử lý vật chứng tại bản án sơ thẩm như sau:

    Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015; khoản 3, khoản 4 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015: giao cho Ngân hàng TMCP B1 01 xe ô tô nhãn hiệu CHEVROLET SPARK, Màu ghi, Biển kiểm soát 93A-076.94, số máy 0986HLSX0181, số khung, 48DJGH938503, đã qua sử dụng hiện đang được bảo quản tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 6, tỉnh Nghệ An theo Phiếu nhập kho số: NK 058 ngày 28/02/2025 để xử lý thu hồi khoản tiền nợ tín dụng ghi nhận tại Bản án dân sự sơ thẩm số 1161/2025/DS-ST của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.

  2. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, Ngân hàng TMCP B1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - TAND Khu vực 6;
  • - VKSND Khu vực 6;
  • - THADS tỉnh Nghệ An;
  • - Công an tỉnh Nghệ An;
  • - NHTMCP Bản Việt;
  • - Anh Lý Quang Thái;
  • - Phòng THADS khu vực 6;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Lưu Thị Hồng Thể

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ




Phạm Văn Phấn Đoàn Thị Kiều Hương

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Lưu Thị Hồng Thể

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 145/2025/HS-PT ngày 30/09/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 145/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận kc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger