|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 145/2025/HS-PT Ngày: 26 – 11 – 2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Tấn
Các Thẩm phán: Ông Trần Minh Tân
Ông Lê Phan Công Trí
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Duy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Dương Thục Trinh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 123/2025/TLPT-HS ngày 15 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo Phan Trung T và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2025/HS-ST ngày 06 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu Vực 7 - tỉnh Cà Mau.
- Bị cáo có kháng cáo:
-
Phan Trung T, sinh ngày 05 tháng 02 năm 2001 tại Bạc Liêu (nay là Cà Mau).
Nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (nay là ấp T, xã V, tỉnh Cà Mau); nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn K và bà Võ Thị G; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 20 tháng 7 năm 2024 đến ngày 29 tháng 7 năm 2024, bị tạm giam từ ngày 23 tháng 8 năm 2024 đến ngày 24 tháng 12 năm 2024 cho bảo lĩnh. (có mặt).
-
Phan Đồng E, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1988 tại Bạc Liêu (nay là Cà Mau).
Nơi cư trú: ấp A, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (nay là ấp A, xã V, tỉnh Cà Mau); nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Thanh S và bà Nguyễn Thị L; có vợ và 01 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 12 tháng 4 năm 2016 bị Ủy ban nhân dân huyện H - tỉnh Bạc Liêu (nay là xã H - tỉnh Cà Mau) xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tổ chức đánh bạc, ngày 25 tháng 12 năm 2017 bị Công an P1 - thành phố B - tỉnh Bạc Liêu (nay là Công an phường B – tỉnh Cà Mau) xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc; bị tạm giữ từ ngày từ ngày 20 tháng 7 năm 2024 đến ngày 29 tháng 7 năm 2024, bị tạm giam từ 27 tháng 8 năm 2024 đến ngày 24 tháng 12 năm 2024 cho bảo lĩnh. (có mặt)
Người bào chữa cho bị cáo: ông Trần Hoàng P, là Luật sư của Văn phòng luật sư Trần Hoàng H thuộc Đoàn luật sư tỉnh C
-
Trịnh Đang T1 (Tên gọi khác: R), sinh ngày 11 tháng 6 năm 2000 tại Bạc Liêu (nay là Cà Mau).
Nơi cư trú: ấp B, xã M, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (nay là ấp B, xã V, tỉnh Cà Mau); nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Văn Đ và bà Trần Thị T2; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 15 tháng 01 năm 2025, đến ngày 22 tháng 4 năm 2025 cho bảo lĩnh. (có mặt)
- Bị hại có liên quan đến kháng cáo:
- Ông Lưu Tấn Đ1, sinh ngày 23 tháng 12 năm 1990; nơi cư trú: ấp T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (nay là ấp T, xã H, tỉnh Cà Mau). (vắng mặt)
- Ông Quách Đại H1, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1990; nơi cư trú: ấp T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (nay là ấp T, xã H, tỉnh Cà Mau). (vắng mặt)
- Ông Trịnh Đang T1 (Tên gọi khác: R), sinh ngày 16/11/2000; nơi cư trú: Ấp B, xã M, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (nay là ấp B, xã V, tỉnh Cà Mau). (có mặt)
Ngoài ra vụ án còn có bị cáo Nguyễn Việt Q, bị cáo Nguyễn Chí T3, bị cáo Phan Trường K1, bị cáo Nguyễn Thành N, không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Xuất phát từ việc Đồng E vay tiền bị hại Được nhưng không trả, nên bị hại Đ1 đòi vào nhà, Đồng E trả lời “muốn lấy tiền thì vô” nên giữa anh Đ1 và Đồng E xảy ra mâu thuẫn, thách thức hẹn đánh nhau.
Bị cáo E đã gọi điện thoại rủ bị cáo N, bị cáo T; bị cáo T rủ thêm các bị cáo khác, trong đó bị cáo Q có lấy 01 cây dao tự chế.
Bị cáo E nói cho cả nhóm biết việc có hẹn đánh nhau với bị hại Được, rồi kêu bị cáo T đi ra khu vực cầu G đón nhóm của bị hại Được vô bao nhiêu người thì thông báo cho bị cáo Đồng E biết.
Khi thấy Lưu Tấn Đ1 rủ Lê Hoàng H2 và Quách Đại H1 đi cùng, Đ1 điều khiển xe chở Lê Hoàng H2 chạy vào hướng xã M thì bị cáo T gọi điện thoại cho bị cáo Đồng E biết. Khi qua cầu M khoảng 100m, thì thấy xe của bị hại Được nên bị cáo N chạy vượt lên chặn xe bị hại Được lại, bị cáo Đồng E cầm 02 ống tuýp sắt xuống xe thách thức rủ bị hại Được đánh nhau.
Khi thấy bị cáo T và bị cáo Q đều có cầm dao tự chế nên Lê Hoàng H2 xuống xe chạy thoát, còn bị hại Đ1 cũng bỏ chạy nhưng bị vấp té. Liền lúc này bị cáo K1, bị cáo T1 dùng tay, chân đánh bị hại Được; bị cáo T và bị cáo Q dùng dao chém vào người của Được.
Bị hại H1 chạy xe tông thẳng vào nhóm người của bị cáo Đồng E để giải vây cho bị hại Được thì bị bị cáo Đồng E, bị cáo T3, bị cáo T1, bị cáo K1 xông vào đánh bị hại H1; bị cáo T cầm dao xông vào chém nhiều cái vào người của bị hại H1 và làm trúng vào tay của bị cáo T1 gây thương tích nên bị cáo T1 bỏ chạy ra ngoài nhờ người quen chở ra Trung tâm y tế B.
Sau khi bị chém, bị hại Đ1 và bị hại H1 cùng nhau bỏ chạy về hướng thị trấn H thì bị cáo T cầm dao đuổi theo định tiếp tục chém thì bị cáo Đồng E chạy đến ngăn không cho đuổi theo rồi cả nhóm lên xe chạy về.
Tại kết luận giám định số 131/KLTTCT-TTPY ngày 24 tháng 08 năm 2024 và Bản kết luận giám định bổ sung số 14/KLBSTT-TTPY ngày 05 tháng 09 năm 2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh B (nay là Cà Mau), kết luận: tỷ lệ tổn thương cơ thể khi giám định của Lưu Tấn Đ1 là: 06%.
Tại kết luận giám định số 133/KLTTCT-TTPY ngày 11 tháng 09 năm 2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh B kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Quách Đại H1 là: 25%.
Tại kết luận giám định số 166/KLTTCT-TTPY ngày 17 tháng 10 năm 2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh B kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trịnh Đang T1 là: 16%.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số số 09/2025/HS-ST ngày 06 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu Vực 7 - tỉnh Cà Mau), đã quyết định:
- Tuyên bố các bị cáo Phan Trung T, Phan Đồng E, Nguyễn Chí T3, Trịnh Đang T1, Phan Trường K1, Nguyễn Việt Q, Nguyễn Thanh N1 phạm tội “Cố ý gây thương tích".
- Căn cứ điểm b, đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 17; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Phan Trung T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 17; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Phan Đồng E 03 (ba) năm tù.
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 17; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Việt Q 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù.
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 3 Điều 17; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Trịnh Đang T1 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù.
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 17; khoản 1 Điều 38; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Chí T3 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 17; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Phan Trường K1 02 (hai) năm tù.
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 3 Điều 17; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N1 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, Điều 587, 590 Bộ luật dân sự năm 2015 buộc các bị cáo bồi thường cho các bị hại, cụ thể như sau:
- Buộc bị cáo Phan Đồng E bồi thường cho anh Lưu Tấn Đ1 số tiền 14.270.868 đồng, bồi thường cho anh Quách Đại H1 số tiền 14.270.868 đồng.
- Buộc bị cáo Phan Trung T bồi thường cho anh Lưu Tấn Đ1 số tiền 14.270.868 đồng, bồi thường cho anh Quách Đại H1 số tiền 14.270.868 đồng.
- Buộc bị cáo Phan Trường K1 bồi thường cho anh Lưu Tấn Đ1 số tiền 10.270.868 đồng, bồi thường cho anh Quách Đại H1 số tiền 14.270.868 đồng.
- Buộc bị cáo Nguyễn Việt Q bồi thường cho anh Lưu Tấn Đ1 số tiền 14.270.868 đồng, bồi thường cho anh Quách Đại H1 số tiền 10.270.868 đồng.
- Buộc bị cáo Trịnh Đang T1 bồi thường cho anh Lưu Tấn Đ1 số tiền 11.770.868 đồng, bồi thường cho anh Quách Đại H1 số tiền 11.770.868 đồng.
Anh Lưu Tấn Đ1 được nhận số tiền 4.000.000 đồng từ bị cáo Phan Trường K1 bồi thường (Biên lai thu số 0001106 ngày 20/05/2025), số tiền 2.500.000 đồng từ bị cáo Trịnh Đang T1 bồi thường (Biên lai thu số 0001107 ngày 23/05/2025) tại Phòng thi hành án dân sự Khu vực 7 – Cà Mau.
Anh Quách Đại H1 được nhận số tiền 4.000.000 đồng từ bị cáo Nguyễn Việt Q bồi thường (Biên lai thu số 0001105 ngày 16/05/2025), số tiền 2.500.000 đồng từ bị cáo T1 bồi thường (Biên lai thu số 0001107 ngày 23/05/2025) tại Phòng thi hành án dân sự Khu vực 7 – Cà Mau.
- Án phí dân sự có giá ngạch: Buộc bị cáo Phan Đồng E phải nộp 1.427.086 đồng; bị cáo Phan Trung T phải nộp 1.427.086 đồng; bị cáo Trịnh Đang T1 phải nộp 1.177.086 đồng; bị cáo Phan Trường K1 phải nộp 1.227.086 đồng; bị cáo Nguyễn Việt Q phải nộp 1.227.086 đồng.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 18 tháng 8 năm 2025 bị cáo T, bị cáo Đồng E, bị cáo T1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và giảm mức bồi thường.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau đề nghị Hội đồng xét xử như sau:
Các bị cáo rút kháng cáo về trách nhiệm dân sự nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 348 của Bộ luật Tố tụng hình sự đình chỉ xét xử phúc thẩm.
Mặc dù bị cáo Đồng E có tình tiết giảm nhẹ mới (bồi thường phần còn lại cho bị hại và bị hại có đơn xin giảm nhẹ) nhưng hình phạt cấp sơ thẩm là phù hợp; bị cáo T1 không cung cấp tình tiết giảm nhẹ mới nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 355, 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đồng E và bị cáo T1.
Bị cáo T gây thương tích cho bị hại H1 25%, bị hại Trường 16% và có thuộc một trong các trường hợp quy định từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự nên hành vi của bị cáo T phạm tội theo điểm d khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo T theo khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 358 của Bộ luật Tố tụng hình sự, hủy một phần bản án hình sự về trách nhiệm hình sự đối với bị cáo T đề điều tra và xét xử lại.
- Bị cáo T, bị cáo Đồng E và bị cáo T1 rút một phần kháng cáo đối với phần bồi thường thiệt hại; về trách nhiệm hình sự bị cáo T và bị cáo T1 giữ nguyên kháng cáo và không có ý kiến tranh luận.
- Người bào chữa cho bị cáo Đồng E có ý kiến tranh luận như sau:
Sau khi xét xử bị cáo Đồng E bồi thường cho bị hại Được và bị hại H1 số tiền còn lại theo bản án, hai bị cáo này có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; đồng thời các bị cáo phạm tội không có cấu kết chặt chẽ nên không áp dụng phạm tội có tổ chức. Từ đó đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Đồng E.
Trong trường hợp, không chấp nhận xin giảm án của bị cáo Đồng E, đề nghị Hội đồng xét xử hủy án sơ thẩm do không tuân thủ cáo trạng là vi phạm nghiệm trọng thủ tục tố tụng như: cáo trạng không nêu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng bản án sơ thẩm lại áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự; Viện kiểm sát đề nghị mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng nhưng cấp sơ thẩm lại xử 03 năm là không đúng, đáng lẽ phải xử bằng hoặc thấp hơn; cáo trạng không nêu bị cáo Đồng E là người khởi xướng nhưng bản án lại kết luận là khởi xướng là không đúng; các lời khai có mâu thuẫn đề chứng minh phạm tội có tổ chức.
Bị cáo Đồng E giữ nguyên yêu cầu giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa, các bị cáo Phan Trung T, Phan Đồng E và Trịnh Đang T1 rút 01 phần kháng cáo, đối với kháng cáo yêu cầu giảm bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo các bị cáo đã rút. Như vậy, phần bồi thường thiệt hại và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch có liên quan đến kháng cáo của các bị cáo, đã pháp sinh hiệu lực.
[2] Các bị cáo thừa nhận thương tích có sử dụng hung khí nguy hiểm, cố ý cùng gây thương tích cho bị hại Được 6% và bị hại Hiệp 25%; khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo thể hiện tính hung hãn, xem thường pháp luật và xem thường tính mạng của người khác; có sự cấu kết chặt chẽ người những người thực hiện tội phạm. Cho nên, cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Phan Đồng E, Nguyễn Chí T3, Trịnh Đang T1, Phan Trường K1, Nguyễn Việt Q, Nguyễn Thanh N1 về tội “Cố ý gây thương tích”, theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự; với dùng hung khí nguy hiểm, phạm tội có tổ chức và có tính côn đồ theo điểm a, đ và i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là phù hợp với quy định của pháp luật.
[3] Tại bản án sơ thẩm cũng nhận định, bị cáo T ngoài phải chịu trách nhiệm hình sự chung với các bị cáo Phan Đồng E, Nguyễn Chí T3, Trịnh Đang T1, Phan Trường K1, Nguyễn Việt Q, Nguyễn Thanh N1 về tội “Cố ý gây thương tích”; khi dùng hung khí huy hiểm và có tính chất côn đồ trong việc gây thương tích cho bị hại Được 6% và bị hại Hiệp 25% thì bị cáo T còn phải chịu thương tích của Trịnh Đang T1 do bị cáo dùng hung khí nguy hiểm gây ra 16%. Từ đó, bản án sơ thẩm đã buộc bị cáo T phải chịu thêm tính tiết định khung theo điểm b khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Điểm b khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự quy định “b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%” Như vậy, khi bị cáo T gây thương tích cho bị hại H1 25% và Trịnh Đang T1 16%, nhưng không thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến k khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Trong khi đó, bị cáo có dùng hung khí nguy hiểm là thuộc điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự, để gây thương tích cho bị hại H1 25% và Trịnh Đang T1 16%. Cho nên, hành vi của bị cáo T đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, theo điểm d khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Điểm d khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự quy định “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”.
Như vậy, có căn cứ cho rằng bị cáo T phạm tội có khung hình phạt nặng hơn so với bản án đã tuyên như phát biểu của Kiểm sát viên. Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo T không bị kháng cáo, kháng nghị và cấp phúc thẩm không làm xấu đi tình trạng của bị cáo; mà thay vào đó, là kiến nghị đến Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao giám đốc thẩm, hủy một phần bản án sơ thẩm đối với bị cáo T. Do Hội đồng xét xử kiến nghị hủy trách nhiệm hình sự đối với bị cáo T để xử khung hình phạt nặng hơn nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
[4] Xét kháng cáo của bị cáo Phan Đồng E và bị cáo T4 Đang T1:
Cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo như: các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại; có một phần lỗi của bị hại. Bị hại có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Trịnh Đang T1; bị cáo Phan Đồng E có thân nhân là người có công với cách mạng được tặng thưởng huân chương kháng chiến. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình quy định tại điểm s, b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bên cạnh đó, khi quyết định hình phạt, cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm, để từ đó quyết định hình phạt đối với từng bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.
Tại cấp phúc thẩm bị cáo Trịnh Đang T1 không cung cấp tình tiết giảm nhẹ mới nên không có căn cứ xem xét giảm nhẹ cho bị cáo T1.
Đối với bị cáo Phan Đồng E, sau khi xét xử bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại Được và bị hại H1 số tiền còn lại theo bản án sơ thẩm đã tuyên; 02 bị hại xin giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Về hành vi, mặc dù bị cáo là người rủ rê các bị cáo khác nhưng bị cáo không trực tiếp gây ra thương tích cho các bị hại và cũng chính bị cáo là người can ngăn các bị cáo khác. Cho nên, có căn cứ xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
[5] Bị cáo T và bị cáo T1, mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm 200.000₫.
[6] Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Trường K1 và bị cáo Trịnh Đang T1.
- Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Phan Đồng E.
Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2025/HS-ST ngày 06 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu Vực 7 - tỉnh Cà Mau.
- Tuyên bố các bị cáo Phan Trung T, Phan Đồng E, Trịnh Đang T1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ vào điểm b, đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Phan Trung T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị bắt đi chấp hành án nhưng được khấu trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 20 tháng 7 năm 2024 đến ngày 29 tháng 7 năm 2024, thời gian bị tạm giam từ ngày 23 tháng 8 năm 2024 đến ngày 24 tháng 12 năm 2024.
- Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Phan Đồng E 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị bắt đi chấp hành án nhưng được khấu trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 20 tháng 7 năm 2024 đến ngày 29 tháng 7 năm 2024, thời gian bị tạm giam từ ngày 27 tháng 8 năm 2024 đến ngày 24 tháng 12 năm 2024.
- Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Trịnh Đang T1 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù.
Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị bắt đi chấp hành án nhưng được khấu trừ thời gian bị tạm giam từ ngày 15 tháng 01 năm 2025 đến ngày 22 tháng 4 năm 2025.
- Căn cứ vào Điều 348 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Phan Trung T, Phan Đồng E, Trịnh Đang T1 về việc yêu cầu giảm bồi thường thiệt hại. Phần bồi thường thiệt hại và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch có hiệu lực kể từ ngày đình chỉ xét xử phúc thẩm.
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Phan Trung T và bị cáo Trịnh Đang T1, mỗi bị cáo nộp án phí hình sự phúc thẩm 200.000₫.
- Căn cứ vào Điều 343 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bản án, quyết định và những phần của bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án không bị kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án
- Kiến nghị với Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao giám đốc thẩm, hủy một phần bản án sơ thẩm về trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Phan Trung T.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Tấn |
Bản án số 145/2025/HS-PT ngày 26/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 145/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: sửa 01 phần, giảm án, do phát sinh tình tiết mới
