Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 145/2025/HS-PT

Ngày: 19 – 3 - 2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Thanh Bình

Các Thẩm phán: Ông Đỗ Minh Nhựt

Bà Phạm Thị Xuân Đào

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Linda – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 42/2025/TLPT-HS ngày 15/01/2025 đối với bị cáo Phạm Minh T do có kháng cáo của bị hại Nguyễn Ngọc T1 đối với bản án hình sự sơ thẩm số 13/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.

1. Bị cáo: Phạm Minh T, sinh năm 1996, tại Đồng Nai; Số CCCD: [...]; nơi cư trú: A, ấp Đ, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Đ (đã chết) và con bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1958; bị cáo là con út trong gia đình có 08 anh chị em; Vợ bị cáo tên Ngô Thùy V (đã ly hôn) và chưa có con. Tiền án: Không; Tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/8/2024 đến ngày 09/9/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh cho đến nay (có mặt).

2. Bị hại: Ông Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1967;

Địa chỉ: 1, ấp D, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

* Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: ông Hoàng Liên S, Luật sư thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ.

Địa chỉ: B, Nguyễn Ái Q, tổ 17, khu phố 2, phường Tân Hiệp, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

3. Người làm chứng:

  • - Ông Nguyễn Ngọc B1, sinh năm 1971
  • - Anh Nguyễn Ngọc M, sinh năm 1996

Cùng địa chỉ: 1, ấp D, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

- Ông Nguyễn Ngọc T2, sinh năm 1969

Địa chỉ: F, khu phố C, phường A, TP B, tỉnh Đồng Nai.

(Bị cáo, Luật sư S, ông T1, anh M, ông T2 có mặt; ông B1 vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được bản án sơ thẩm tóm tắt như sau:

Do có mâu thuẫn từ trước đó, vào tối ngày 04/02/2024, khi gia đình ông Nguyễn Ngọc Bình S1 năm 1971 đang ngồi ăn cơm ở số nhà A, ấp D, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai, thì ông Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1967, trú tại 139/3, ấp D, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai cầm ca nước hắt vào mâm cơm qua cửa sổ, dùng vòi nước xịt vào nhà ông B1. Biết chuyện, Nguyễn Ngọc M sinh năm 1996 (là con trai ông B1) gọi điện nhờ bạn là Phạm Minh T đến nhà để đề phòng ông T1 tiếp tục sang gây sự.

Đến 21 giờ 00 phút cùng ngày, khi Nguyễn Ngọc M và Phạm Minh T đang ngồi trong sân thì ông Nguyễn Ngọc Thơ T3 nhà đi sang chửi bới, trên tay phải cầm 01 con dao rựa dài 60cm chém vào thùng rác của nhà ông B1 để trước nhà. Lúc này bà Trần Thị T4 đi ra nói chuyện với ông T1 thì cả hai bên tiếp tục xảy ra cãi vã. Nguyễn Ngọc M đi đến can ngăn thì bị ông Nguyễn Ngọc T1 cầm dao trên tay phải gõ vào vùng trán của M gây chảy máu, tiếp đến Phạm Minh T chạy tới can ngăn thì bị ông T1 cầm dao rựa chém vào gót chân của T. Lúc này ông Nguyễn Ngọc B1 về tới nên ông T1 cầm con dao bỏ về nhà.

Bực tức vì bị ông T1 chém, Phạm Minh T điều khiển xe mô tô về nhà ở số A, ấp Đ, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai lấy 01 cây tuýp sắt dài 70cm, đường kính 2,5cm rồi điều khiển xe quay lại nhà Nguyễn Ngọc M, Tân dựng xe mô tô trong sân nhà M rồi cầm theo ống tuýp sắt chạy sang nhà ông T1, thấy ông T1 đang ngồi trong nhà, M cầm ống tuýp sắt nhắm vào người ông T1 vụt từ trên xuống, ông T1 đưa tay trái lên đỡ thì bị tuýp sắt vụt trúng cổ tay trái gây thương tích. Sau đó ông T1 dùng 01 cây côn nhị khúc chống trả thì T vứt tuýp sắt bỏ chạy, ông T1 cầm côn đuổi theo T sang đến nhà của ông B1 thì lúc này lực lượng Công an xã G đến can ngăn nên sự việc chấm dứt.

Tại bản Kết luận giám định thương tích số 0353/KLGDTT ngày 14/5/2024 của Trung tâm pháp y Sở Y kết luận về tổn thương cơ thể của ông Nguyễn Ngọc T1: Sẹo mặt trước – trong sau cổ tay trái kích thước 4,5 x 0,2cm, tỷ lệ 01%; Sẹo mổ vùng cổ tay trái kích thước 02 x 0,2 cm, tỷ lệ 01%; Sẹo mổ vùng cổ tay trái kích thước 02 x 0,2 cm, tỷ lệ 01%; Tổn thương nhánh thần kinh trụ trái đoạn vị trí vùng bàn tay trái, tỷ lệ 11%; Tổn thương nhánh thần kinh quay trái đoạn vị trí vùng bàn tay trái không xác định được thời gian, tỷ lệ 11%. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông Nguyễn Ngọc T1 tại thời điểm giám định là 23%.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Phạm Minh T về tội “Cố ý gây thương tích”, quá trình điều tra, Phạm Minh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Về trách nhiệm dân sự: Do hai bên không thỏa thuận được với nhau về mức bồi thường nên trong quá trình giải quyết vụ án bị cáo Phạm Minh T đã tự nguyện nộp số tiền là 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thống Nhất để bồi thường thiệt hại.

Về vật chứng của vụ án:

  • - 01 ống tuýp sắt dài 70cm, đường kính 2,5cm là hung khí Phạm Minh T sử dụng thực hiện hành vi phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tổ chức truy tìm nhưng không có kết quả.
  • - 01 con dao rựa cán gỗ, dài 50cm của ông Nguyễn Ngọc T1 dùng vào việc gây thương tích cho Nguyễn Ngọc M, hiện đang liên quan trong một vụ án khác, Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục tạm giữ, xử lý theo quy định.

* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai quyết định:

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 50 và điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự; Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Phạm Minh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt bị cáo 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án (ngày 29/11/2024).

Ngoài ra bản án còn quyết định về các quy định về chế định án treo, trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo, bị hại.

Ngày 05/12/2024, bị hại Nguyễn Ngọc T1 kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai Hủy bản án sơ thẩm, trả hồ sơ điều tra lại làm rõ hành vi của đối tượng B1, M với vai trò chủ mưu cầm đầu.

* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa:

Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo phù hợp về nội dung, hình thức và trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung: bị hại kháng cáo có đồng phạm trong vụ án nhưng bị hại không có chứng cứ gì chứng minh, các chứng cứ trong hồ sơ không thể hiện có đồng phạm nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo này của bị hại. Tuy nhiên, qua các chứng cú có trong hồ sơ cũng như kết quả tranh tụng tại phiên tòa thể hiện cấp sơ thẩm chưa làm rõ sự việc bị hại gây thương tích cho bị cáo, xét vụ án có dấu hiệu “có tính chất côn đồ” mà cấp sơ thẩm chưa làm rõ, cấp phúc thẩm không thể bổ sung được nên đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm.

* Quan điểm tranh luận của luật sư: thống nhất tội danh của bị cáo là “Cố ý gây thương tích”, hồ sơ không đủ căn cứ chứng minh bị hại có chém vào gót chân bị cáo, điều tra không triệu tập ông Nguyễn Ngọc T2 làm người làm chứng trong khi ông T2 chứng kiến toàn bộ sự việc xảy ra vụ án là chưa khách quan, chưa làm rõ bị cáo sử dụng hung khí gì gây án, chưa xem xét toàn diện về bồi thường dân sự là chưa giải quyết triệt để vụ án. Luật sư thống nhất với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là hành vi của bị cáo có tính chất côn đồ nên đề nghị hủy án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị hại Nguyễn Ngọc T1 làm đúng quy định pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phạm Minh T thừa nhận hành vi phạm tội như mô tả tại bản án sơ thẩm; bị cáo xác định không bị oan sai, đồng thời trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử ở cấp sơ thẩm bị cáo không bị ép cung hoặc dùng nhục hình, lời khai của bị cáo hoàn toàn chính xác và tự nguyện. Do đó, bản án sơ thẩm là có cơ sở, đúng người, đúng tội.

[3] Về nội dung kháng cáo:

Qua lời khai của bị cáo, ông Nguyễn Ngọc B1, anh Nguyễn Ngọc M, ông Nguyễn Ngọc T1, xét thấy: mâu thuẫn giữa gia đình ông B1, anh M và ông T1 là có thật nhưng ông T1 không có mâu thuẫn gì với bị cáo T, sự việc xảy ra không liên quan gì đến bị cáo T. Bị cáo T đến nhà anh M thấy việc anh M bị ông T1 làm trầy xước trán, bị cáo T có can ngăn thì bị ông T1 dùng dùng dao rựa chém xuống đất làm rách da chân 01cm nhưng đây chỉ là lời khai của bị cáo T; ông T1 không thừa nhận; anh M khai không chứng kiến không biết; ông B1 khai bị cáo T bị ông T1 làm chảy máu chân nhưng không biết chân nào và không chứng kiến sự việc;

Quá trình điều tra, Cáo trạng và Bản án sơ thẩm đều cho rằng vì bị cáo T bị ông T1 chém trầy chân 01cm nên tức giận về nhà lấy hung khí qua nhà ông T1 chém ông T1 mà chưa làm rõ có hay không vết thương 01cm ở chân của T và có hay không sự việc ông T1 làm bị cáo T bị rách da chảy máu chân 01cm là thiếu sót.

Xét thấy vụ án có dấu hiệu “có tính chất côn đồ” mà chưa được điều tra làm rõ nên căn cứ điểm b khoản 1 điều 358 BLTTHS “Việc điều tra ở cấp sơ thẩm không đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung được” nên cấp phúc thẩm hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2024/HSST ngày 29/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai để điều tra, xét xử lại theo quy định của pháp luật.

[4] Bị hại T1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

[5] Quan điểm của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa đề nghị hủy bản án sơ thẩm phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử và quy định của pháp luật nên chấp nhận.

[6] Quan điểm của luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại tại phiên tòa phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử về việc hủy bản án sơ thẩm nên chấp nhận, còn các quan điểm khác không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử và quy định của pháp luật nên không chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 345, điểm c khoản 1 Điều 355, điểm b khoản 1 Điều 358 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Chấp nhận kháng cáo của bị hại Nguyễn Ngọc T1.

Hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2024/HSST ngày 29/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai để điều tra, xét xử lại theo quy định của pháp luật.

Chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

Bị hại T1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND cấp tỉnh, huyện;
  • - TAND cấp sơ thẩm;
  • - Sở tư pháp;
  • - Công an cấp quận, huyện;
  • - Phòng PV06 – Công an tỉnh;
  • - Nhà tạm giữ/Trại tạm giam;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký tên và đóng dấu)

Thái Thị Thanh Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 145/2025/HS-PT ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 145/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Minh T phạm tội cố ý gây thương tích theo điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger