|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 145/2025/HNGĐ-ST Ngày 29 - 5-2025 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Liêu Chí Khanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Thái Hoàng Bo.
Bà Phạm Thị Hà.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ánh Hồng là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.
Ngày 29 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 171/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2025 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 142/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Như H, sinh năm 1997; địa chỉ cư trú: Ấp D, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Bị đơn: Anh Trần Nhất L, sinh năm 1986; địa chỉ cư trú: Khóm A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Chị Nguyễn Như H trình bày: Chị với anh L chung sống với nhau vào tháng 12 năm 2019 đến tháng 12 năm 2020 thì ly thân; từ tháng 10 năm 2023 thì tiếp tục trở lại chung sống với nhau, hôn nhân tự nguyện, sau đó đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thành phố C vào ngày 12/8/2024. Vợ chồng sống hạnh phúc và sinh được con chung tên Trần Phú T, sinh ngày 19/5/2024. Tuy nhiên thời gian gần đây tiếp tục phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, anh L không quan tâm, lo lắng cho vợ con, dù được gia đình hàn gắn nhưng anh L không sửa đổi nên vợ chồng ly thân khoảng 03 tháng nay. Hiện tại chị không còn thương yêu anh L nên xin ly hôn, yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh L cấp dưỡng. Thời gian chung sống vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Trần Nhất L, nhưng anh L không có văn bản phản đối yêu cầu khởi kiện của chị H, không tham gia hòa giải và xét xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Anh Trần Nhất L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về hôn nhân: Chị H khai sau thời gian chung sống hạnh phúc thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, chủ yếu là do anh L không quan tâm, thương yêu chị, dù gia đình có hàn gắn nhưng anh L không sửa đổi mà sống ly thân khoảng 03 tháng nay, tự tạo cuộc sống riêng, không còn trách nhiệm với nhau. Anh L không có ý kiến phản đối, anh cũng không mong muốn hàn gắn quan hệ hôn nhân với chị H, thể hiện qua việc nhiều lần Tòa án triệu tập hòa giải và xét xử, anh đều không tham gia. Từ đó cho thấy tình trạng hôn nhân của anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, cho chị và anh L ly hôn là phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[3] Về con chung: Chị Huỳnh X nuôi con, anh L không phản đối. Xét thấy cháu Phú T mới 12 tháng tuổi cần có sự chăm sóc của mẹ, nên cần tiếp tục giao con chung cho chị H nuôi dưỡng là phù hợp với khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Do chị H không yêu cầu nên Tòa án không buộc anh L phải cấp dưỡng nuôi con.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị H xác định không có, anh L không phản đối nên Tòa án không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Do yêu cầu được chấp nhận nên chị H phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, khoản 3 Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Như H. Cho chị Nguyễn Như H được ly hôn với anh Trần Nhất L.
- Về con chung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Như H. Giao Trần Phú T, sinh ngày 19/5/2024 cho chị Nguyễn Như H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Trần Nhất L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Như H phải chịu 300.000 đồng. Chị H đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm theo biên lai thu tiền số 0002987 ngày 14/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi, chị H đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Chị H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh L có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Liêu Chí Khanh |
Bản án số 145/2025/HNGĐ-ST ngày 29/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 145/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn xin ly hôn, bị đơn không phản đối, vắng mặt khi Tòa án xét xử
