TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 145/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 28/5/2025
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Gia Lương
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Hồng Phương
ông Ngô Văn Bê
-Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hồng Vân -Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Hà Thị Hải - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 28/5/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 85/2025/TLST-HNGĐ ngày 18/3/2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/3/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 75/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28/4/2025 giữa các đương sự:
*Nguyên đơn: Chị Phạm Thị T, sinh năm 1991 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
*Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H; sinh năm: 1988 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
(Hiện đang lao động tại nước ngoài).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và bản tự khai ngày 10/3/2025 nguyên đơn chị Phạm Thị T trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn H kết hôn ngày 02/5/2012 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Trước khi kết hôn hai bên có tìm hiểu xét thấy có tình cảm nên anh chị tự nguyện tiến tới hôn nhân và được sự đồng ý của hai bên gia đình. Mâu thuẫn vợ chồng xảy ra từ đầu năm 2021 do anh H có quan hệ bên ngoài với người phụ nữ khác, dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không cải thiện được. Đến năm 2022 thì anh H đi sang Đài Loan để lao động. Do mỗi vợ chồng ở một nơi và thường xuyên sống xa cách nhau dẫn đến phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống do không còn tiếng nói chung trong cuộc sống. Hiện nay anh chị không còn liên lạc và quan tâm tới nhau nữa, mâu thuẫn của vợ chồng hai bên gia đình đều biết và có khuyên bảo hòa giải nhưng không có kết quả. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn H.
Về con chung: Chị và anh H có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 02/02/2013 và cháu Nguyễn Thị Khánh L, sinh ngày 05/01/2015. Hiện nay hai cháu đang ở cùng với chị, ly hôn chị đề nghị giao hai cháu cho chị nuôi dưỡng, về cấp dưỡng nuôi con chị không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản, công nợ chung: không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Do tính chất công việc nên chị không tham gia được các phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình giữa chị và anh H, nên chị đề nghị Tòa án cho chị được vắng mặt trong các buổi làm việc, các phiên tòa xét xử tại Tòa án.
Bị đơn anh Nguyễn Văn H hiện đang lao động tại nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật đối với anh H, đến nay Tòa án không nhận được thông tin của anh H.
+Toà án đã tiến hành làm việc với bà Nguyễn Thị T1 là mẹ đẻ anh H. Bà Nguyễn Thị T1 trình bày: Bà là mẹ đẻ của anh Nguyễn Văn H, anh H hiện nay không có mặt tại địa phương, anh H hiện đang làm việc tại Đài Loan. Anh H ở nước ngoài vẫn thường xuyên liên lạc về cho gia đình qua điện thoại. Về địa chỉ của anh H ở nước ngoài thì bà không được biết nên không cung cấp cho Tòa án án được. Chị T có đơn xin ly hôn với anh H thì quan điểm của anh H là đồng ý ly hôn với chị T.
Vợ chồng anh H và chị T có 2 con chung là cháu Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 02/02/2013 và cháu Nguyễn Thị Khánh L, sinh ngày 05/01/2015, ly hôn thì quan điểm của anh H là đồng ý giao hai con chung cho chị T nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con anh H không có ý kiến gì.
Về tài sản chung, công nợ chung: không có.
Tại biên bản lấy lời khai cháu Nguyễn Thị Trà M, cháu Nguyễn Thị Khánh L trình bày: Các cháu là con của bố Nguyễn Văn H và mẹ Phạm Thị T, hiện nay các cháu đang ở với mẹ Phạm Thị T, nếu bố mẹ các cháu ly hôn thì nguyện vọng của các cháu là được ở với mẹ là Phạm Thị T.
Tại phiên tòa nguyên đơn chị Phạm Thị T vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Nguyễn Văn H vắng mặt không có lý do.
Hội đồng xét xử thông qua đơn khởi kiện, bản tự khai của chị Phạm Thị T; biên bản làm việc với bà Nguyễn Thị T1, biên bản lấy lời khai của các cháu Nguyễn Thị Trà M, cháu Nguyễn Thị Khánh L và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.
Về việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn chị Phạm Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn anh Nguyễn Văn H không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng đối với anh H; Căn cứ vào Điều 10 Nghị quyết số 01/2004/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết vụ việc về Hôn nhân gia đình, xử vắng mặt anh H là đúng.
-Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng điều 51, 53, 56; Điều 81, 82, 83, 84 và khoản 2 điều 123; điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 điều 28; khoản 3 điều 35; điểm c khoản 1 điều 37; khoản 4 điều 147; điều 271; điều 273; điều 150; khoản 2 điều 479 BLTTDS; khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị T. Xử:
Về hôn nhân: cho chị Phạm Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn H.
Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 02/02/2013 và cháu Nguyễn Thị Khánh L, sinh ngày 05/01/2015 cho chị Phạm Thị T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Cấp dưỡng nuôi con không đặt ra do chị T không yêu cầu.
Anh Nguyễn Văn H có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh H thực hiện quyền này.
Về án phí: chị Phạm Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật: chị Phạm Thị T là nguyên đơn là người Việt Nam, hiện đang sống ở Việt Nam có đơn xin ly hôn và yêu cầu giải quyết nuôi con chung đối với anh Nguyễn Văn H. Bị đơn anh Nguyễn Văn H là người Việt Nam, có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Bắc Giang nhưng đang sống ở nước ngoài không có địa chỉ cụ thể. Tòa án đã tiến hành làm việc với mẹ đẻ của anh H là bà Nguyễn Thị T1, yêu cầu bà T1 cung cấp địa chỉ cụ thể của anh H ở nước ngoài nhưng bà T1 vẫn không cung cấp địa chỉ, tin tức của anh H cho Tòa án. Nhận thấy đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Vì vậy, Căn cứ vào Điều 10 Nghị quyết số 01/2004/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết vụ việc về Hôn nhân gia đình; khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xác định đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: anh Nguyễn Văn H hiện đang lao động tại nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ (theo Công văn số 789/QLXNC ngày 21/3/2025 của Phòng Q-Công an tỉnh B), thì anh H đã xuất cảnh ngày 28/01/2022 hiện chưa có thông tin nhập cảnh trở lại, địa chỉ cuối cùng của anh H ở Việt Nam là: Thôn P, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Như vậy, đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình có đương sự ở nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình;khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3].Về sự vắng mặt của đương sự: chị Phạm Thị T đề nghị xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Văn H vắng mặt không có lý do. Do vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[4]. Về Hôn nhân: chị Phạm Thị T và anh Nguyễn Văn H có đăng ký kết hôn ngày 02/5/2012 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng chị T và anh H phát sinh mâu thuẫn, chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H.
Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Phạm Thị T đối với anh Nguyễn Văn H. Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn chị T và anh H về chung sống với nhau hạnh phúc sau đó thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Đến năm 2022 thì anh H đi nước ngoài lao động, kể từ đó vợ chồng ít khi liên lạc với nhau và đã không còn quan tâm gì đến nhau. Xét thấy tình cảm giữa chị T và anh H đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị T. Xử cho chị Phạm Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn H.
[5]. Về con chung: chị Phạm Thị T và anh Nguyễn Văn H có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 02/02/2013 và cháu Nguyễn Thị Khánh L, sinh ngày 05/01/2015. Ly hôn chị T đề nghị giao cháu Nguyễn Thị Trà M và cháu Nguyễn Thị Khánh L cho chị nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Xét yêu cầu nuôi con chung của chị T: Hội đồng xét xử thấy hiện nay anh H đang lao động tại nước ngoài không thể trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Anh Nguyễn Văn H từ khi đi nước ngoài đến nay thì cháu Nguyễn Thị Trà M và cháu Nguyễn Thị Khánh L vẫn do chị T là người trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc, các cháu được đi học đầy đủ và các cháu N có nguyện vọng được ở với chị T. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị Thu V nuôi con chung. Giao cho chị Phạm Thị T là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 02/02/2013 và cháu Nguyễn Thị Khánh L, sinh ngày 05/01/2015 đến khi các con chung đủ 18 tuổi là phù hợp với điều kiện thực tế cũng như quyền và lợi ích về mọi mặt của con chung.
Sau khi ly hôn anh Nguyễn Văn H có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở anh H thực hiện quyền này.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] .Về tài sản, công nợ: chị Phạm Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[7]. Về án phí: Chị Phạm Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng dân sự; và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
[8]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 81; 82; 83, 84 và khoản 2 Điều 123; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; khoản 3 điều 153; Điều 271; Điều 273; khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:
- Về hôn nhân: Cho chị Phạm Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn H.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 02/02/2013 và cháu Nguyễn Thị Khánh L, sinh ngày 05/01/2015 cho chị Phạm Thị T là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Anh Nguyễn Văn H có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh H thực hiện quyền này.
- Về án phí: Chị Phạm Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0002465 ngày18/3/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang (xác nhận chị Phạm Thị T đã nộp đủ).
- Về quyền kháng cáo bản án: Chị Phạm Thị T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.
Anh Nguyễn Văn H hiện đang ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa có thời hạn kháng cáo Bản án là 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Nơi nhận:
- -Cổng thông tin điện tử TANDTC
- -VKSND tỉnh Bắc Giang;
- -Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
- -UBND xã Tam Dị, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
- -Các đương sự;
- -Lưu hồ sơ vụ án;
- -Lưu Tổ HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Gia Lương | |
HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 145/2025/HNGĐ-ST ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 145/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vụ T - H ly hôn
